NHẬT BÁO CUỐI NGÀY...

Hổng miệng

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   

Hà và Lục thuê c
a hàng cạnh nhau. Hà bán đồ điện. Lục cắt tóc, gội đầu. Cứ rỗi khách là lại đáo qua nhau nói chuyện cho đỡ buồn. Thôi thì đủ thứ chuyện, từ chuyện hàng họ ế ẩm, sắp có đám giỗ ở quê đến việc thằng chồng  dạo này “lười” ghê gớm. Phải nói là Hà nói rất suôn nên Lục thường nhận cho mình phần nghe là chính.


Dần dần, Lục ít phải sang bên Hà. Phần vì đông khách hơn và phần vì  Hà rảnh một chút là chạy sang ngay. Hình như Hà có như cầu “xả” và cần người chịu trận.


Hôm nay cũng vậy, Hà sang đấy. Chưa thấy người đã thấy tiếng: Ôi, sang nhờ ép cái tóc nhỉ? Lục không nói, gật gật đầu. Hà ngồi phịch xuống ghế :
Ơ, sao tao thấy hàng mày hôm nay hôi thế? Lục rời mắt khỏi đầu khách ngẩng lên: Sao? - Hình như mày lại dùng thuốc đểu hay sao mà hôi vậy? - Chị cứ hay đùa. - Đùa đ. gì. Mà thôi, hộ tao cái tóc đi. Là thôi, chứ ép để chúng mày chặt chém à? Gớm, có tí thuốc với mấy lần xả, là, vậy mà lấy của người ta những mấy trăm nghìn. Ơ cái đứa phụ đâu? Cô bé thợ phụ nãy giờ đứng bên chậu gội lật khật đi lại, nói nhấm nhẳn: Cháu đây, tóm lại là cô nhờ là tóc chứ gì? - Ờ, ờ, hộ cô tí đi, xinh quá!


Khách đứng dậy trả tiền. Hà đang là tóc vẫn cố ngoái sang: này cho tiền thật đấy nhá, hàng này không nhận tiền đểu đâu. Lục tiễn khách xong vào nằm thừ xuống ghế gội. Con bé thợ phụ buông tay khỏi đầu Hà: Cô muốn gội đầu à, để cháu! - Không, cháu cứ là tóc đi. - Lục thở ra. - Chị Hà này, chị có cho em sống không đấy nhỉ? - Ơ, cái con này, tao định giết mày hồi nào? Hả, hả? - Ừ.. thôi em nghỉ tí đã, mệt quá. Lục nhắm mắt giả ngủ.


Con bé thợ phụ là quấy quá cho Hà về nhanh rồi sà vào gãi đầu cho Lục. Vừa gãi nó vừa nói: Sao cô hiền thế? Có khách mà cô cứ để cô Hà nói giọng ấy thì mất hết khách thôi. Chả phải cùng việc, cần cạnh tranh nên đá nhau nhưng cháu thấy tệ tệ. Không nên nói giọng ấy. Chê mà vẫn cứ nhờ. Cô phải bảo cô ấy chứ. - Ừ cũng định,  nh
ưng cô ấy dữ mồm quá, với lại…kìa, lại có khách vào đấy cháu! Ngồi, ngồi vào ghế đi em! Mặt tươi rói, Lục ngồi phắt dậy, tay với nhanh cái hộp dầu dưỡng tóc…
                                                                    

Quỳnh Linh

Em sắp khóc đây này!

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Entry for November 09, 2007

Ở nhà bà ngoại, Mit với chị Quý chơi đồ hàng. Chị nhất quyết không cho Mit cái cầu tụt. Mit liền đi ra cửa. Chị Quý gọi:

- Mit! Đi đâu đấy?

Mit ở ngoài không trả lời, rên ư ử. Chị Quý hiểu ý, ra đưa cho Mit cái cầu tụt.

Về nhà, chị Mai hàng xóm rủ Mit chơi. Đang chơi, chị tranh đồ chơi của Mit. Mit lại chạy ra cầu thang đứng một mình, đợi chị Mai gọi. Đợi mãi không thấy chị, Mit liền nói thật to:

- Chị Mai ơi, em sắp khóc đây này!

Mit.


Ngắn ngắn dài dài...

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Entry for November 08, 2007

- Mẹ ơi hôm nay ở lớp con biết tự đi tè.

- Mít của mẹ giỏi quá. Tè ở đâu hả con?

- Con tè ở chỗ có cái gạch dài dài.

- Dài dài? Thế… các bạn gái cũng tè cùng à?

- Không. Các bạn gái ngồi ở chỗ gạch ngắn ngắn, cạnh cái lỗ tròn tròn ý!

Mit.




50 năm một địa chỉ văn học

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

 Trải qua 50 năm, nền văn học Việt Nam đã hình thành một đội ngũ chuyên viết về chiến tranh nhân dân, về lực lượng vũ trang nhân dân mà Tạp chí Văn nghệ Quân đội (VNQĐ) là một trung tâm.

Vào thời đổi mới, VNQĐ vẫn chiếm được tình cảm của đông đảo bạn đọc.

Nhân dịp kỷ niệm 50 năm ngày ra đời tạp chí VNQĐ, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết đã gửi thư cho tạp chí và các nhà văn nhà thơ quân đội, Chủ tịch khẳng định: Từ các cuộc chiến tranh yêu nước cho đến nay, các nhà văn nhà thơ quân đội và tạp chí  VNQĐ đã bám sát đời sống chiến đấu của bộ đội, sáng tạo những tác phẩm hay có sức thuyết phục lớn, góp phần quan trọng vào nền văn học yêu nước và cách mạng của dân tộc.

Năm 1957, tạp chí  VNQĐ ra đời. Thế hệ các nhà văn, nhà thơ khai sinh tạp chí   VNQĐ là Thanh Tịnh, Nguyễn Chi, Nhị Ca, Nguyễn Minh Châu, Xuân Miễn, Duy Khán, Phác Văn, Phùng Quán, Trần Dần...

Ngay từ những ngày đầu các nhà văn quân đội đã lên đường tham gia vào những sự kiện lớn của đất nước. Năm 1962, một số nhà văn được giao nhiệm vụ trở lại chiến trường miền Nam.

Các nhà văn Nguyễn Thi, Nguyên Ngọc, Thanh Giang, Võ Trần Nhã, Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn góp phần thành lập và xuất bản tạp chí  Văn nghệ Quân giải phóng miền Nam, Văn nghệ quân giải phóng Trung Trung Bộ - sự tiếp nối của  VNQĐ trên chiến trường miền Nam.

Từ toà soạn tạp chí  VNQĐ ở miền Bắc, trong suốt cuộc chiến tranh phá hoại của Mỹ, các chuyến đi chiến trường liên tục được tổ chức. Các nhà văn đến với Cồn Cỏ, tham gia vào nhiều chiến dịch lớn ở Quảng Trị, đi tuyến lửa Khu 4, đường vận tải Trường Sơn...

Những chuyến đi ấy dẫn đến sự ra đời của hàng loạt các tác phẩm tiêu biểu: Họ sống và chiến đấu, Chiến sỹ - Nguyễn Khải; Kan Lịch, Khi có một mặt trời -  Hồ Phương, Vùng trời - Hữu Mai; Lửa từ những ngôi nhà, Dấu chân người lính - Nguyễn Minh Châu; Thông ven đường - Xuân Thiều; Mở rừng - Lê Lựu...

Chiến tranh cứu nước đã làm nên giá trị của cả một dân tộc, một đội quân; Chiến tranh cũng tạo nên những phẩm chất đặc biệt của các nhà văn chiến sỹ.

Trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, VNQĐ có trong hầm chốt, trên đường hành quân. Không ít cuốn VNQĐ, Văn nghệ Quân giải phóng bị bom đạn xé rách, thấm máu người lính.

Cũng trong những năm đó xuất hiện khá nhiều tài năng văn học: Hữu Thỉnh, Nguyễn Duy, Đỗ Chu, Lưu Quang Vũ, Triệu Bôn, Anh Ngọc, Vương Trọng, Nguyễn Khắc Trường, Dương Duy Ngữ, Phạm Tiến Duật, Nguyễn Chí Huân, Nguyễn Đức Mậu, Trung Trung Đỉnh... trưởng thành từ VNQĐ. Nhiều người sau này trở thành cán bộ chủ chốt của Hội Nhà văn Việt Nam, của tạp chí  VNQĐ.

Ngoài việc làm báo, các nhà văn của tạp chí  Văn nghệ Quân đội còn tích cực sáng tác văn học và luôn xem đây là một nhiệm vụ quan trọng, hàng chục tiểu thuyết, tập truyện ngắn, bút ký, thơ, trường ca và phê bình lý luận văn học đã ra đời trong thời kỳ đổi mới, được bạn đọc quan tâm.

Một số nhà văn trẻ cũng giành được giải thưởng trong các cuộc thi của các tạp chí, báo và các nhà xuất bản như Nguyễn Bình Phương, Nguyễn Đình Tú, Quỳnh Linh, Đỗ Bích Thuý, Đỗ Tiến Thuỵ, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai...

Trong 50 năm xây dựng và trưởng thành, đã có 4 nhà văn công tác tại VNQĐ được nhận giải thưởng Hồ Chí Minh; 12 nhà văn được nhận giải thưởng quốc gia và quốc tế về văn học; 32 nhà văn được nhận giải thưởng của Hội Nhà văn Việt Nam và Bộ Quốc phòng.

Nhiều nhà văn đã được tặng thưởng Huân Chương Độc Lập, Huân chương Kháng chiến chống Mỹ, Huân chương Chiến công và được thăng quân hàm cấp tướng.

Tập thể tạp chí VNQĐ được Đảng và Nhà nước phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng Vũ trang nhân dân, trao tặng 2 Huân chương Quân công hạng Nhất và hạng Ba, 2 Huân chương chiến công hạng Nhất cùng nhiều bằng khen.

A.H (bài viết trên báo Tiền Phong 20-1-2007)

http://www.tienphong.vn/Tianyon/Index.aspx?ArticleID=73569&ChannelID=7

Nhà văn cấp úy

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   
Họ đang ở độ tuổi trên dưới ba mươi, không còn trẻ lắm nhưng còn lâu mới gọi là già. Các bạn ấy, xin được gọi thế cho thân mật là những nhà văn mặc áo lính thuộc thế hệ 7X, đã và đang trở nên quen thuộc với người đọc trong nước. Trong số họ, người có cấp bậc khiêm tốn nhất là trung úy và cao nhất là đại úy. Có thể gọi họ là những nhà văn cấp úy trong Quân đội hiện nay. Đó là Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng và Phùng Văn Khai hiện đang làm việc tại tạp chí Văn nghệ quân đội, nơi được bạn viết, bạn đọc gọi trìu mến là Nhà số 4.

      Ngôi nhà số 4 vốn đã được coi là một địa chỉ văn học quen thuộc và nổi tiếng từ thời chống Mỹ xâm lược ở nước ta. Đây là nơi các nhà văn, nhà thơ, nhà lý luận phê bình Vũ Cao, Thanh Tịnh, Phùng Quán, Từ Bích Hoàng, Hồ Phương, Nguyễn Thi, Xuân Miễn, Nguyên Ngọc, Phạm Ngọc Cảnh, Dũng Hà, Nguyễn Chí Trung, Nguyễn Minh Châu, Nam Hà, Hữu Mai, Vương Trí Nhàn, Nhị Ca, Ngô Thảo, Lê Lựu, Chu Lai, Nguyễn Thị Như Trang, Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Nguyễn Khắc Trường, Thanh Quế, Bùi Minh Quốc, Trần Đăng Khoa, Trung Trung Đỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Anh Ngọc, Vương Trọng, Hồng Diệu, Lê Thành Nghị…đã từng làm việc và sáng tác. Tạp chí Văn nghệ quân đội hiện thời qui tụ 3 thế hệ nhà văn; thời chống Mỹ có Nguyễn Bảo, Khuất Quang Thụy, thời sau năm 1975 có Ngô Vĩnh Bình, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Hữu Quý, Đỗ Viết Nghiệm, Nguyễn Quốc Trung, Nguyễn Thanh Tú, Nguyễn Bình Phương và thời đổi mới có Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai và trong tương lai không xa lắm theo tôi phải kể thêm Quỳnh Linh, Đoàn Minh Tâm, Phạm Duy Nghĩa (từ Lào Cai về). 


Với các nhà văn cấp úy, thời gian cầm bút sáng tác của họ chưa lâu lắm. Tính kỹ ra thì người viết lâu nhất như Nguyễn Đình Tú và Đỗ Bích Thúy cũng chỉ trên chục năm. Các bạn ấy đương nhiên không phải là “thần đồng” văn chương trái lại có người bộc lộ khả năng sáng tác của mình khá chậm. Nguyễn Đình Tú và Đỗ Bích Thúy trên hai mươi tuổi mới có được giải thưởng “Tác phẩm tuổi xanh” của báo Tiền phong và Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai cũng mới có một số tác phẩm được chú ý trong vài năm gần đây. Nhưng, giá trị lớn nhất của một nhà văn theo tôi không phải ở chỗ là viết lâu hay mới viết, có nhiều đầu sách hay ít đầu sách mà ở chổ chất lượng nghệ thuật của tác phẩm, ấn tượng văn chương mà họ để lại trong lòng bạn đọc được bao lăm. Nói như vậy để ghi nhận và định giá đúng những gì mà các nhà văn cấp úy trong ngôi nhà số 4 này đã làm được. Từ đó, có cơ sở tin cậy, hy vọng vào một lớp nhà văn mới trong Quân đội mà 5 anh em Tú – Thúy - Thụy – Hùng – Khai trong Nhà số 4 là những ví dụ. 
 


Vâng, “5 anh em mang 5 cái tên” (thơ Hữu Thỉnh) nhưng cùng chung một nghiệp văn chương và cùng làm biên tập và sáng tác ở Nhà số 4. Người về Văn nghệ quân đội lâu nhất trong số họ là Nguyễn Đình Tú. Tú về Nhà số 4 năm 2001 khi đang còn rất trai tráng rảnh rang. Từ Viện kiểm sát Quân khu 3, Nguyễn Đình Tú tự tin bước vào Văn nghệ quân đội. Cũng phải rập rình hai năm kể từ khi tạp chí Văn nghệ quân đội có ý định “xin” chàng cử nhân luật xinh trai hoạt khẩu này về cơ quan mình, Tú mới chính thức bước vào cổng Nhà số 4. Trước đó ít lâu khi về Trại viết của Văn nghệ quân đội tổ chức ở Đồ Sơn gió mây khoáng đạt, tôi được nghe đôi người rỉ tai: “Cái thằng Tú này tinh tướng lắm, hắn tuyên bố với anh em trong trại viết là sẽ nã đại bác vào Nhà số 4”.  Hỏi ra, thì trong một cuộc nhậu tưng tưng, ngồi giữa một vài anh em trẻ Tú có nói như thế nhưng với cái ý rất tốt đẹp là cố viết khá lên để được về làm việc ở Văn nghệ quân đội. Khi về làm biên tập văn xuôi ở Văn nghệ quân đội Nguyễn Đình Tú đã có “vốn”: 2 lần được giải nhì truyện ngắn và bút ký của tạp chí này. Gần mười năm nhìn lại, với sự lao động nghệ thuật nghiêm túc, Nguyễn Đình Tú đã có 7 tập truyện ngắn ( Bên bờ những dòng chảy, Không thể nào khác được, Nỗi ám ảnh không nguôi, Vũ điệu của thị dân, Chuyện lính, Đoản khúc mùa thu, Điệu mabo hư ảo) và 2 tiểu thuyết ( Hồ sơ một tử tù, Bên dòng Sầu Diện) chững chạc. Nguyễn Đình Tú có cái nhìn cuộc sống sắc sảo và tỉnh táo, lối viết mạch lạc- sáng, cốt truyện thường vững, mang nhiều chất điện ảnh (nhất là tiểu thuyết). Nguyễn Đình Tú là nhà văn có bạn đọc (Tiểu thuyết Hồ sơ một tử tù đã được in và tái bản 3 lần và đã được chuyển thành phim với cái tên Lời sám hối muộn màng). Nguyễn Đình Tú đã dành được các giải thưởng văn học của tạp chí Văn nghệ quân đội, Nhà xuất bản Công an nhân dân, Nhà xuất bản Thanh niên…Mới ngày nào xách cặp vào Nhà số 4 mà bây giờ đã 7 năm, Nguyễn Đình Tú hiện nay là trưởng ban Văn xuôi của Văn nghệ quân đội (trẻ nhất từ trước đến nay nên nhà văn Ngô Vĩnh Bình gọi đó là Hoàng Trung Hải- phó thủ tướng sinh năm 1959- của Văn nghệ quân đội) và điều không thể không nói đến là “bố”Tú đã có bé gái Nguyễn Đình Ngọc Linh rất dễ thương thường hay lon xon chạy qua phòng “Bác Chí” (Ngọc Linh gọi tôi như thế) chơi. 
Người ta nói với nhau rằng: 2 nhà văn nữ trẻ nổi tiếng ở nước ta hiện nay sinh ra ở hai đầu đất nước.


Đó là Nguyễn Ngọc Tư ở Cà Mau và Đỗ Bích Thúy ở Hà Giang. Con đường văn chương của Thúy nhìn chung là hanh thông. Thúy đã từng học kế toán, từng làm báo Hà Giang nhưng theo như Mai, anh trai Thúy kể thì đêm đêm khi gia đình, làng bản đã chìm sâu trong giấc ngủ cô em gái của mình vẫn cặm cụi viết viết xóa xóa trong phòng riêng. Anh trai Thúy không biết cô viết cái quái gì mà đêm nào cũng thức gần tới sáng. Cho đến khi báo Tiền phong đăng tin Đỗ Bích Thúy đoạt giải A “Tác phẩm tuổi xanh” năm 1995 gia đình mới biết cô viết văn. Khi đang là sinh viên Phân viện báo chí truyên truyền, Đỗ Bích Thùy đã dành giải Nhất cuộc thi truyện ngắn Văn nghệ quân đội năm 1999 vào phút chót với chùm truyện viết về vùng cao rất ấn tượng là Ngải đắng ở trên núi, Đêm cá nổiSau những mùa trăng. Trong cuộc thi sôi động đó, nếu Đỗ Bích Thúy không dự thi vào phút 89 thì chắc chắn suất “Trạng nguyên” đã thuộc về Nguyễn Đình Tú. Nào ngờ cô gái gốc quê Nam Định nhưng định cư ở Hà Giang này đã làm một cuộc “lật đổ” ngoạn mục vào phút chót. Đỗ Bích Thúy nổi tiếng dần với những tập truyện ngắn Sau những mùa trăng, Những buổi chiều ngang qua cuộc đời, Ký ức đôi guốc đỏ, Tiếng đàn môi sau bờ rào đá và tiểu thuyết Bóng của cây sồi. Đỗ Bích Thúy khá thành công trong nhiều truyện ngắn, tiểu thuyết viết về vùng cao, nhất là vùng cực bắc Hà Giang nơi có nhiều đồng bào người Mông, người Dao sinh sống. Thúy quan sát cuộc sống tỉ mỉ, có cách miêu tả nhân vật tinh tế, xử lý tình huống và xung đột khéo léo. Văn Đỗ Bích Thúy ở bậc trầm-sâu, nhiều cảm xúc và gợi mở, cuốn hút người đọc một cách nhẹ nhàng, từ tốn. Nhà văn Khuất Quang Thụy từng nhận xét về Đỗ Bích Thúy thế này: “Truyện ngắn của Đỗ Bích Thúy lay động tâm hồn chúng ta bởi sự trăn trở một cách rất thực tế, giản dị và trắc ẩn trong tâm hồn những người dân miền sơn cước, nhất là trong thế hệ trẻ của vùng đất xa xôi này. Nhưng nếu chỉ có vậy thì chưa chắc đã có gì đàng kể, điều quan trọng là tất cả những điều đó được kể với một bút pháp nhuần nhuyễn, giàu chất thơ, với sự hài hòa giữa khám phá và diễn đạt, giữa nghệ thuật dẫn chuyện và sử dụng chi tiết một cách sáng tạo kiềm chế”. Ngoài những giải  thưởng đã kể trên Đỗ Bích Thúy còn có giải thưởng về tiểu thuyết “Bóng của cây sồi” của Nhà xuất bản Thanh niên và giải thưởng của Hội văn học dân tộc thiểu số năm 2006. 
 


Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng và Phùng Văn Khai mới về đầu quân Văn nghệ quân đội sau khi tốt nghiệp khoa Viết văn (tên chính xác là khoa Sáng tác, lý luận phê bình văn học) trường Đại học Văn hóa Hà Nội. Trước khi làm sinh viên Đỗ Tiến Thụy là lính tuyên huấn của Binh đoàn Tây Nguyên, Nguyễn Thế Hùng là lính phòng không của Quân khu 9, Phùng Văn Khai ở Truyền hình quân đội. Thụy với Hùng thì tôi mới biết nhưng Khai thì từ năm 1996 hai anh em đã biết nhau. Tháng 5 năm ấy, Văn nghệ quân đội mở trại viết ở Đồ Sơn, tôi và Khai được mời tham gia. Khai là lính lái xe, trẻ khỏe rắn rỏi hay mặc bộ quân phục rằn ri dã chiến. Thời ấy, Khai đã
viết truyện ngắn và hình như đã có in ở Văn nghệ quân đội. Tôi nhớ trong trại viết có nhiều thành công ấy (theo đánh giá của VNQĐ và hầu hết trại viên đã trở thành hội viên Hội Nhà văn Việt Nam) Phùng Văn Khai hay “quấn quýt” với hai chị viết văn xinh đẹp từ Quảng Trị và Hà Tĩnh ra là Trần Thanh Hà và Như Bình. Như Bình thời ấy xinh ghê gớm nên ít nhất có quá nửa trại viên nam mê đắm. Tác giả “Hồi ức một binh nhì” Nguyễn Thế Tường và cả Phan Tùng Lưu, Vũ Toàn, tất nhiên cả tôi…nữa đều “thích” Như Bình. Thụy và Hùng tôi quen khi hai bạn về thi vào Đại học Văn hóa Hà Nội. Tôi còn nhớ buổi chiều hôm ấy, tại phòng tôi ba anh em ngồi “đoán” đề và cùng phân tích bài “Đây thôn Vỷ Dạ” của Hàn Mặc Tử. Ai ngờ, đề thi có câu đó. Mới đấy mà đã sáu bảy năm rồi. Từ chỗ mới tập tọng viết văn giờ đây cả ba người đã có những kết quả ban đầu trên con đường sáng tác văn học nhọc nhằn. Đỗ Tiến Thụy đã có tập truyện ngắn Gió đồng se sắt và tiểu thuyết Màu rừng ruộng viết về bộ đội thời bình, đã từng được giải thưởng bút ký và truyện ngắn tạp chí Văn nghệ quân đội, cuộc thi “Tầm nhìn thế kỷ” báo Tiền Phong.


Nguyễn Thế Hùng, một sĩ quan phong độ đẹp trai với truyện ngắn Lộc giời được giải thưởng của Văn nghệ quân đội dần dà được dư luận chú ý. Trước đó, Nguyễn Thế Hùng đã được giải Nhất cuộc thi truyện ngắn 12 tỉnh đồng bằng sông Cửu Long. Trong vòng ba năm gần đây Nguyễn Thế Hùng đã in được 2 tập truyên ngắn là Đàn chim về sau bãoTruyện ngắn Nguyễn Thế Hùng.


Trung úy Phùng Văn Khai sau một thời gian khá dài lăn lốc với truyền hình quân đội đã về làm biên tập ở Văn nghệ quân đội, một người mà chúng tôi thường gọi là phóng viên nóng của tạp chí. Khỏe mạnh, xông xáo, quen biết nhiều nên Khai thường được cử đi viết về bão lũ, vùng sâu vùng xa. Đến nay, Phùng Văn Khai đã trình làng 5-6 đầu sách như các tập truyện ngắn Khúc dạo đầu binh nhì, Đêm trăng thiêng, Hương đất nung, Truyện ngắn Phùng Văn Khai và tập chân dung nhà văn Lê Lưụ như tôi biết. Phùng Văn Khai đã từng được giải thưởng truyện ngắn và bút ký của Văn nghệ quân đội. 
 


Cho đến bây giờ tôi vẫn còn nhớ một Gió đồng se sắt của Đỗ Tiến Thụy, Lộc giời của Nguyễn Thế Hùng và Đêm trăng thiêng của Phùng Văn Khai. 
Các nhà văn cấp úy, đương nhiên là trẻ đã và đang “tấn công” vào Nhà số 4.


Những Nguyễn Đình Tú, Đỗ Bích Thúy, Đỗ Tiến Thụy, Nguyễn Thế Hùng, Phùng Văn Khai và đương nhiên cả những
Quỳnh Linh
, Đoàn Minh Tâm rồi Phạm Duy Nghĩa (đã từng đạt giải Nhất cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ)… nữa kế tiếp các nhà văn, nhà thơ lớp trước đảm nhận trách nhiệm biên tập, sáng tác ở Văn nghệ quân đội.


Họ thuộc lớp nhà văn mang áo lính của thế kỷ 21. Đang sung sức, rất nhiệt tình và được học hành cơ bản, tử tế tôi tin các nhà văn cấp úy thời công nghiệp hóa hiện đại hóa sẽ làm được một điều gì đấy. Bạn viết, bạn đọc mong chờ sự bứt phá, vượt lên mình để mới hơn, lạ hơn của họ. Phía trước họ, lừng lững thế hệ nhà văn chiến trận và đông đảo của thời hậu chiến. Đằng sau họ đã có các lớp nhà văn 8X, 9X đang rất năng động và táo bạo. Thử thách đối với họ chẳng bé chút nào…


NGUYỄN HỮU QUÝ
 (http://www.vannghequandoi.com.vn/Home/Newsdetail.aspx?catid=40&id=455)

Bậu cửa nhà mình

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Xuân xanh non rón rén từng hạt mưa. Mẹ đưa tấm áo bông trần khẽ nhắc: Mặc vào đi con. Sao sớm vậy mẹ? Mới rét nhẹ mà. Xuân đến bậu cửa rồi đấy. Nhẹ ngọt thế mà giá buốt lúc nào không hay đâu con.  

Mẹ vẫn còn nói thế. Thời bây giờ có ai làm bậu cửa nữa. Cái cũ qua rồi! Thế sao bây giờ thanh niên quay trở lại diện mốt áo bông chần? Cái loại áo thời bà từng ước mơ. Thời mẹ anh cho là sang trọng. Thời anh coi đồ tẩm, sản phẩm của bao cấp. Còn thời con anh, nó lại nghĩ rằng sành điệu, đồ “zin”.

Im lặng. Mẹ ngẩn nhìn con mà như thể thấy gì phía sau con. Một ô cửa sổ? Cong khoảng trời xanh? Thuở khuôn mặt con bầu bĩnh, lấp lánh ánh mắt trong, con cứ lon ton chạy là mẹ lại đi theo, để đôi lúc bất chợt lao tới giữ rịt con lại. Thường thì trước cái bậu cửa bằng gỗ bạc sơn mà nâu bóng dấu thời gian, đời người.
Chỉ có mấy chục phân bậu cửa mà con đã phải cố gắng dường nào để biết dừng, hiểu cách qua nó.

Và mẹ thường xuất hiện đúng lúc bên con trước cái ngưỡng tưởng chừng bé nhỏ ấy.Bước qua rồi mới thấy, đời người có bao chặng đường trải dài vô tận dưới chân ta, ai nhảng qua, ai đi đến tận cùng? Không ai có thể định trước, nhưng nhìn lại, thấy tồn tại quá rõ, thấy có lúc đã cố vượt cho được mà rồi mỗi lần qua vẫn thả bước như không. Quen thuộc quá thành ra hờ hững.

Nhưng nếu một mái nhà không được hạ xuống, một cái nóc mới không được cất lên, bậu cửa vẫn ở đó. Bậu cửa nhà mình, con bấu đến đỏ cả tay, lẫm chẫm cho tới ngày biết đi. Bậu cửa nhà mình, cái giới hạn quá sức cho con cố trèo qua lúc mới tập ăn cơm nát. Con từng khao khát được mẹ nhấc qua bậu cửa vào nhà vì những nỗi sợ rất vu vơ thủa nhỏ.  

Có lần, vắng mẹ, con đã chạy oà về ôm lấy bậu cửa, tìm cách lăn cả người qua khi lá khô theo bóng nắng đột nhiên rơi đầy hiên nhà. Qua bậu cửa, vào nhà mình, con như được nằm trong vòng tay mẹ cha. Êm ấm, bình an. Thủa nào xa, con cùng lũ bạn ào vào nhà, la gọi mẹ ầm ĩ: Khát, chúng con khát, đói lắm mẹ ơi. Mẹ bưng cả rổ ngô mà có lúc con đã nghĩ mẹ rang từ những giọt mồ hôi lăn theo tiếng cười, chìm giấu giữa cuộc đời bao dòng nước mắt. Lũ chúng con, dựa, ngồi, bấu chật khuôn cửa, trông dáng mẹ ngồi trên bậu cửa bốc từng nắm đẫy ngô chia đủ như một bà tiên.

Rồi có lúc, một mình lẩn mẩn, mải miết khắc vẽ hình mẹ cha lên bậu cửa, vô tư đan cùng thoáng hoa dại chợt thấy bên đường. Vẩn vơ tìm những nét vẽ đầu tiên của bức tranh. Đợi có những người phụ nữ như bà như mẹ cắt ngang bậu cửa. Họ nhấn điểm sáng cho mỗi ngôi nhà có những người đàn ông đi ngăn tro máu chiến tranh. Bậu cửa - thử thách đầu đời nhiều khi thành nơi con thể hiện tình cảm, ước mơ, tài hoa mà phần nhiều không bao giờ trở thành hiện thực.

Nhưng cho con lớn khôn, biết nhìn khi bước.Tuổi trưởng thành đã có lúc con ước, giá mình được quay lại những ngày hai cẳng chân thường xuyên bầm tím vì đểnh đoảng mỗi khi qua bậu cửa. Ngày tóc màu trăng, con cũng không bỏ được thói quen lấy ngón tay trỏ mân mê từng vết bầm tím - những dấu ấn nhạt dần theo sự trưởng thành của con. Ngày tóc màu trăng con mong trở về với ngôi nhà cũ, ngắm mẹ ngồi rẽ tóc cho bà bên bậu cửa. Chả nhổ sợi tóc sâu nào mẹ vẫn rẽ đều tay. Con thắc mắc, mẹ trỏ ngón tay giữa trán, ngốc chi mà, bà có tuổi rồi, sợi nào bạc cũng bỏ thì hết tóc sao.

Bà ngủ lúc nào không hay, ngả đầu lên đùi mẹ. Tin cậy, bà dựa vào lòng người mình đã chọn dắt qua bậu cửa, đến ban thờ làm lễ nhận dâu. Bố đứng run trong hạnh phúc đón phút giây bà vẫy cho qua bậu cửa nhà mình bước vào cuộc đời mới. Bậu cửa - ranh giới của gia đình và xã hội, giới hạn của sự bình an mỗi con người, bà dạy mẹ mà ngày ấy con chưa tỏ. Chỉ nghĩ một nhảng thôi qua bậu cửa thô mộc, bàn chân con đang nóng rẫy đã được luồng mát lạnh ngấm từ chân lên người. Lắng, nguôi những oi bức, vất vả ngoài đời.

Mẹ cứ mắng, tại sao con hễ chạy về đến thềm, thì y như rằng quăng dép, đu người, nhấn bàn chân trần lên bậu cửa rồi mới thả khựng người vào trong. Có lần con khù khăng, mẹ nói, mẹ không mắng chuyện đi đất mà mắng cái cách con thả dép trước bậu cửa nhà mình.

Một lần, con đã đi chân trần ra khỏi bậu cửa mà không tài nào nhớ nổi mình thả dép ở đâu, và mẹ cũng không còn mắng con nữa. ấy là bữa ông đi ra mà không tự nhảng qua bậu cửa. Con mặt  nhoè nước, hai bàn tay nhỏ nhoi cố bấu một đầu áo quan, chần chừ, níu, mắt nhìn như đóng đinh vào bậu cửa, làm ai đó hét tướng lên: Ai đấy, bước đều đi cho xuôi ma. Khênh áo quan chớ có lừng chừng.

Con bước như trôi, nhưng không nhớ nổi bằng cách nào đã qua được cái bậu cửa, khi lần đầu tiên mong nó ở xa, xa thêm một chút, một chút nữa mà bất lực. Chỉ một nhảng thôi, căn nhà đã lùi lại. Ông vĩnh viễn trở về với điểm bắt đầu.  

Hư không, nơi bà từng nói ở đó con người thoát khỏi tất cả các ràng buộc, tự do, vô tận chẳng có giới hạn nào. Tuy nhiên con biết, bà với mẹ sau những khoảnh khắc nghĩ về những điều vô cùng ấy vẫn không thôi thẫn thờ trước khoảng đất lõm trước bậu cửa nhà mình. Nơi ấy, có dấu chân trước dấu chân sau. Bà thầm thì: dấu chân sâu của ông, dấu chân rộng của cha. Mẹ thêm: dấu chân thon của bà. Con hỏi, dấu chân của con đâu? Bà nhìn ra cửa: ở giữa dấu chân ông, bà, cha, mẹ đó. Ai đi rồi cũng để lại dấu hết.

Bên bậu cửa, mỗi chiều hôm, thay vì nhắc đến ông mẹ nói nhiều đến cha. Khéo léo mẹ cất nỗi trống vắng, vá nỗi buồn cho bà bằng hy vọng ngày mai.  

Ngoài sân, vết nắng in thưa dần theo từng đợt lá thay. Chỉ không thôi rỡ ràng cho mắt bà lâu loà chờ ngày cha trở lại. Rồi cha trở về sau khói đạn chiến tranh. Cái bậu cửa thành ra quá cao.

Mỗi lần qua, cha phải khó khăn lắm mới cho được hai cái nạng đi trước, rồi vất vả đu người vào. Mẹ bảo: để em gọi thợ mộc đến cưa bỏ cái bậu cửa cho mình dễ vào ra. Nhưng bố lắc đầu: Đừng, cái bậu cửa này không phải chỉ cho tôi...

Ngày tháng trôi, mẹ và con quen dần dáng bố ngồi trên bậu cửa. Một ống quần thõng rơi, bệt xuống đất, một ống vắt xẹp trên bậu cửa.
Tay chống vào ống điếu, bố ngửa mặt mơ màng. Sau cắm cúi cạp cái rổ cho mẹ. Hàn quai dép đứt cho con. Tiếng sáo môi cất lên. Chiếc nạng gỗ gác một bên. Ngoài giếng, mẹ thả rơi gầu lúc nào không biết.

Từ bậu cửa, cạnh những vết lõm ngang, cha tự tin rời khoảng trời riêng ra với thế giới, khi thì thừa mà lúc thì thiếu thế.  Nơi giới hạn của chính mình cha tìm thấy những khoảnh khắc vô biên.

Giờ nhà cửa hiện đại, cốt gạch, nền men, chả ai còn làm bậu cửa. Nhà mình cũng thế. Nhưng bà vẫn không quên kể “cái bậu cửa nhà mình...” trong câu chuyện không bao giờ hết về ngày xửa xưa: “Này, cái bậu cửa nhà mình, mới là đẹp lắm, vuông thành, tròn cạnh.

Chẳng bao giờ ông bà để mạng nhện chăng. Ông đi hằng tuần tìm chọn lũa gỗ mịn nhất, thơm nhất để làm nó đấy. Ngày có gió, có nắng, mùi gỗ xông lên ùa vào nhà cứ là hơn thứ nước hoa xịt phòng của chúng bay bây giờ. Giữa lúc ấy, thằng cha mày nó chạy từ đâu về, nhảy bụp lên bậu cửa, giơ tay huơ huơ tờ giấy, mà vì nó lũ em bay chậm ra đời có dễ chục năm đó. Ôi chao nó ngả người vào nhà làm bà sợ quá, chạy xô tới, đỡ vội. Nó liền nhảy xuống, doe miệng cười nhấc bổng bà lên: Con lớn rồi mẹ ơi. Không đi bộ đội thì chắc là không lớn?” Bà cười đấy mà lại khóc ngay.  “Nó xin đi. Nó nhảng qua bậu cửa. Ra vẻ dứt khoát, sau lại thần người, đứng ngó trân trân vào nhà.” 

 “Chỉ một nhảng thôi để được bao bọc trở che trong căn nhà của mẹ mà con không bước nổi. Con phải vùng lên chạy đi vì sợ mình không xa nổi mẹ, xa cái bậu cửa nhà mình. Mẹ ơi con sẽ về. Và chỉ một nhảng thôi, con sẽ lại trở về bé nhỏ, chìa bàn tay chờ mẹ xới cơm. Không biết mẹ phải cố gắng lọc từng hạt cơm bám vào những mẩu sắn độn, nên con từng trễ nải làm rơi vì không nhìn vào tay mà lại nhìn vào mắt mẹ, thuở nào.” 

Cha mày viết thư về cho bà như vậy đấy. Nhưng mãi nó mới về, cho mẹ mày hõm cả người vì mong.  Bà lại cười khóc như không, và vẫn nói “tao nhớ cái bậu cửa năm nảo, năm nào.”

Mẹ bảo, ngày mẹ mới về làm dâu, bà chỉ nhắc mỗi nhà có một cái bậu cửa, đến trước nó tự khắc mỗi người chỉnh cách đi, cách bước, con cũng thế, đừng để vấp ngã. Mẹ theo bà tự xác định cho mình một cách ứng xử, làm những điều nên và được làm, tránh những gì không được phép và không tự cho phép...Người người như nhau, phải tự biết và có cái ngưỡng của mình. Có chính bởi ngày xưa nhà ai cũng đóng bậu cửa nên chẳng nhiều người làm dại làm liều, phá ẩu, quá ngưỡng đến hồn nhiên như hôm nay?.

Thời này, muốn thấy, con phải lang thang nơi chốn chùa cũ. Còn chùa xây sửa, bôi xanh đỏ, chầu hẫu mấy đầu sư tử, chó xi măng quệt quạt nham nhở, thì cũng không còn bậu cửa nữa. Trơn tuột, ngỡ nhẹ tênh. Cả người vào ra, và người bám bíu, ăn theo bát nhang, gác chuông...

Mưa xuân buông êm. Cho lòng thêm thèm được trở về ngôi nhà mình cũ, có dáng mẹ ngồi dựa cửa. Thèm được bấu lấy tay, lặng ngắm, xót xa theo những giọt nước mắt lăn xuống khoé miệng mẹ cười. Người phải trông đợi nhiều thường dễ khóc cười thì phải. Thèm lại được nghe mẹ nhắc: Cẩn thận. Bậu cửa đấy con!

Mẹ nhìn cái cách con nhảng qua bậu cửa mà lo toan. Con vô tình đánh rơi thời gian của mẹ nơi bậu cửa. Còn nhiều khó khăn, chưa vội mừng. Sao mẹ biết? Yêu rồi phải không? Sao mẹ hay? Đường phải đi chớ tính trở về. Sao mẹ nhắc vậy? Nhìn cách cách con bệt xuống bậu cửa mà xem. Đời sợ nhất là làm tổn thương nhau. Sao mẹ lo thế? Đừng, nhé! Mỗi lần về là một lần nghe mẹ dặn. Sao ư con? Nhìn bước chân con qua bậu cửa là mẹ biết thế nào rồi. Thôi, nói mẹ nghe chuyến này hai đứa... Ra gọi nó vào đi... 

Trời sao mẹ đoán được? Buông lời vậy nhưng con ù chạy ra ngay, không kịp nghe nhưng kịp đoán thể nào mẹ cũng bảo: Cái cách con qua bậu cửa nhà mình. Rồi đôi chân con dắt vội bạn vào... Mẹ đưa mắt nhìn con, khẽ gật đầu như khắc thêm một dáng người nối bước mẹ qua bậu cửa  nay mai.Sau những ngày dài nhung nhớ và chín chắn qua trải nghiệm cuộc sống, chúng con đã nên vợ nên chồng. Như bao lứa đôi theo nhịp sống hiện đại chúng con xin ra ở riêng. Mẹ gật đầu nhìn theo hút bóng.

Đầy hy vọng và khát khao tạo lập, chúng con đã biến ước mơ thành hiện thực mà chưa nghĩ đến việc dựng cho căn nhà của mình một bậu cửa. Hay tại con đã quá quen bậu cửa cũ, và suốt tuổi thơ cũng chưa bao giờ ước mơ một điều giản dị như nơi nghỉ trên bậu cửa nhà mình để lớn lên rồi lơ đễnh.  Cho tới khi con nhận ra sự thiếu hụt thì cô ấy đã kịp nhảng bước ra xa, không phải qua một cái bậu cửa mà đường biên của nhiều quốc gia, trông đợi lối sống lạ. Tình yêu mới mở đầu cho sự đổi thay đó và muốn con mình cũng có thể lớn lên trong điều kiện như thế.

Có thể cô ấy đã sợ chính tuổi thơ của mình. Nếu cho vợ con sống lại, cô ấy có bước qua bậu cửa nhà mình, hay vẫn giật mình mỗi khi nó hiện về trong giấc mơ nơi đất khách như có lần viết thư về kể? Thậm chí cô ấy còn coi đó như một minh chứng cho sự trống trải rất cần sự bù đắp của mình và gợi sự tha thứ của con, mong được đồng ý cho đứa con gái duy nhất theo mẹ sang đó.  

Con đắn đo trước quyết định không đồng ý để lại dễ dàng gật đầu khi cô ấy lừa rằng, thế thì cho con nó du lịch một chuyến thôi vậy. Con đâu nghĩ cô ấy muốn tạo dựng thế dựa cho bản thân bắt đầu từ cuộc hôn nhân mới của mình và của con trong tương lai với người bản địa. Cô ấy bảo ở xứ lạ may ra chỉ có thể tin được con mình tự đẻ, chứ ngoài ra thì được ngày nào hay ngày ấy. Như vậy nên cô ấy đã mang con sang cầu cho mình điểm tựa để tin để sống?

Cô ấy thiếu mà con quá thừa niềm tin đến độ bỗng thành người khờ khạo, nhìn ngày đang qua mà ước trở lại thời xa xưa. Tất cả không phải chuyện cổ tích hay trong cỗ máy thời gian, cùng chiếc nhẫn có khả năng làm lại mọi điều của trí tưởng tượng. Không thể chỉ bằng một vòng xoay, không thể chỉ cần nhấn nút có thể lấy lại, trở về cái thời đã trôi, những điều đã mất. Dẫu vậy, con vẫn tin từ chính sự hồn nhiên lẫn giữa ngốc nghếch của mình. Nên con cho rằng không thể bập bập lấy lại hay xoá đi bước nhảng đã qua bậu cửa nhưng có thể quay đầu bước trở về. Bậu cửa làm ngưỡng để ra cũng là giới hạn dẫn lối và cho thấy mình đã vào.

Thời xưa, cửa hẹp bậu cao, ít đóng. Thời nay cửa rộng, không ngưỡng, ít mở. Mẹ nói khi thôi ngó ra ngoài sân. Thì bây giờ là thời của phương tiện mà mẹ. Cái bậu cửa không khéo hoá thành trở ngại. Đơn cử cái xe máy thôi, mẹ bảo dắt làm sao..Mẹ nhao lại, bực bội nhìn con.

Ý con bảo, thời của phương tiện, nên người ta có thể vuốt bỏ tất cả, vượt mọi ngưỡng, để có thể dễ dàng lấy nhau làm phương tiện phải không? Không, không mẹ ạ. Nhưng sẽ đến lúc người ta phải lấy nhau, lấy từ cuộc đời nhau làm cái giới hạn, cái ngưỡng cho mình mẹ nhỉ.

Ấy là cứ nghĩ gần xa, còn đời lúc nào chả vậy. Thực thì nó vẫn ở trong đầu mỗi người và hình thành tồn tại đôi khi rất vô thức, giữ bình yên cho từng gia đình. Bà đón miếng trầu mẹ vừa mới têm bỏ gọn vào miệng nói như tiếng gió lùa.

Mẹ đóng cửa đi vào. Chả biết mẹ con chúng nó giờ này, bên xứ tuyết ấy, có biết rằng sắp Tết hay không. Qua bậu cửa rồi, mẹ cũng đâu giữ được cho con. Con ngỡ ngàng, nãy giờ con mơ mãi về mình, với những kỷ niệm, còn mẹ, bao năm vẫn thế, đắm đuối cho con. Mẹ sợ cái lạnh trong lòng và giới hạn chịu đựng của con. Con nói nhanh, như cố gỡ lại từng khắc thời gian. Còn chưa giao thừa mà, mẹ con cô ấy sẽ trở về. Con tin, chắc...

Bà nhắc cái áo bông trần: Tự nhiên lại giận chuyện không đâu. Mặc áo vào đã! Bậu cửa - nếp nhà, thời nào vẫn có. Nghĩ gì cho xa xôi...  

Quỳnh Linh
 

Từ website Quê Hương ngày 8-11-2007

http://www.quehuong.org.vn/vi/nr050307131435/nr050307110310/nr050307153611/ns071108093602/view
 

John Reed và 10 ngày rung chuyển thế giới

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

(Nhân 90 năm Cách mạng Tháng Mười Nga vĩ đại (7/11/1917 - 7/11/2007)

 
Tên tuổi tác giả cuốn sách - nhà văn và nhà chính luận người Mỹ John Reed - nổi tiếng khắp thế giới. John Reed sinh tại
Portland (tiểu bang Oregon) vào thập niên 1880. Xuất thân từ một gia đình giàu có, năm 1910 ông tốt nghiệp trường Đại học Tổng hợp Harvard và trở thành cộng tác viên với nhiều tờ báo lớn ở Mỹ. Trước mắt John rộng mở tương lai sáng lạn của một ký giả danh giá, nhưng anh lại chọn con đường khác - con đường của một chiến sĩ đấu tranh cách mạng.

Khi cách mạng bùng nổ tại
Mexico vào năm 1913, John Reed tức tốc lên đường tới đó và tham dự  vào các cuộc hành trình tranh đấu của những nông dân khởi nghĩa. Tác phẩm đầu tiên của J.Reed Mexico khởi nghĩa đã được sinh ra trong bối cảnh đó. Tới năm 1914 Reed sang châu Âu, nơi vừa bùng nổ Thế chiến I và sống một năm rưỡi dọc các mặt trận với binh sĩ của các bên tham chiến. Đầu mùa xuân năm 1915 ông có mặt tại mặt trận Nga. Sau đó ông qua đất Nga và tới tháng 9-1917 thì tới Petrograd; những ngày bão táp của cuộc cách mạng vĩ đại sắp đến gần. Cùng với những binh đội Hồng quân đầu tiên công phá Cung điện Mùa Đông, John Reed đã lọt vào pháo đài cuối cùng của giai cấp tư sản Nga. Ông là nhân chứng của việc Antonov-Ovseenko bắt giữ các thành viên của chính phủ lâm thời; cũng như có mặt trong Điện Smolni, chứng kiến Đại hội toàn Nga lần thứ nhất của các Xôviết, lắng nghe bài phát biểu lịch sử của Lenin cùng những sắc lệnh đầu tiên mà chính quyền Xôviết ban hành.

John Reed không phải là nhà quan sát trung lập với những sự kiện lịch sử vĩ đại! Tràn đầy bầu nhiệt huyết khó kiềm chế, người ký giả Mỹ này muốn mục kích tất cả, muốn nghe được mọi thứ cũng như thâm nhập vào mọi nơi. Ông công khai và kiên định tự nguyện đứng vào hàng ngũ những người Bolsevich - Đảng của Lenin.

Từ Bacu trở về sau Đại hội nhân dân phía Đông, John Reed bị sốt thương hàn và mất ngày
17-10-1920. Thi hài ông được chôn bên tường thành Điện Kremlin như những nhà cách mạng kiệt xuất nhất. 

* * *

Dưới đây chúng tôi xin trích dịch với độc giả một đoạn trong Mười ngày rung chuyển thế giới, John Reed mô tả việc tạo dựng những nấm mồ liệt sĩ vô danh cạnh quảng trường Đỏ ở Moskva ngay sau những ngày đầu cách mạng thành công, kế bên chỗ chôn cất ông sau này:

Chiếu tối hôm 16 tháng 11 tôi đã mục kích hai nghìn chiến sĩ Hồng quân diễu hành trên quảng trường Zagorod dưới tiếng quân nhạc chơi bài Marseille (một giai điệu thật hợp với bối cảnh cách mạng sôi sục này!). Những lá  cờ  đỏ  thẫm màu  máu  phần phật
tung bay trên đầu những đoàn công nhân đông đảo đổ tới quanh quảng trường. Họ tới để chúc mừng những người anh em của mình trở về từ mặt trận bảo vệ “thành phố Đỏ” Petrograd. Họ dậm chân bởi cái lạnh chạng vạng, đàn ông và phụ nữ, và những lưỡi lê súng trường dài tua tủa sau lưng họ; họ hành tiến dưới ánh đèn đường vừa bật lên dưới lớp bùn tuyết trơn nhẫy, ánh mắt của công chúng tư sản đang dõi theo họ - câm lặng, dọa nạt và miệt thị.

Tất cả đều chống lại họ: bọn áp phe, lũ đầu cơ, đám cò mối, chủ nhà chứa, các sĩ quan quân đội, giới chính khách, sư phạm, sinh viên, những người làm nghề tự do, lái buôn, công chức, phục vụ. Tất cả các đảng phái xã hội khác đều căm ghét những người Bolsevich với sự thù hận sâu sắc nhất. Đứng về phía những người Xôviết là lực lượng quần chúng công nhân bình thường, thợ máy, thủy thủ, những binh sĩ chưa bị động viên, những nông dân không có tài sản và một nhóm - một nhóm nhỏ thuộc giới trí thức mà thôi.

Từ những điểm xa xôi nhất của nước Nga, những nơi đang tràn ngập những cuộc ẩu đả đường phố chán ngán, tin tức về sự sụp đổ của chính phủ Kerensky lan tới như một tiếng sấm rền báo hiệu Kỷ nguyên những người vô sản đã chiến thắng: Kazan, Saratov, Novgorod… những nơi từng phải đổ máu trong các cuộc đấu tranh trên đường phố. Ở Moskva, nơi những người Bolsevich phải dùng đến pháo binh và nhiều vũ khí hạng nặng khác để tấn công sào huyệt cuối cùng của giai cấp tư sản - Điện Kremlin.

“Chúng dội bom Kremlin!”. Cái tin sốt dẻo đáng sợ này được truyền miệng nhau trên đường phố
Petrograd. Rồi cả những tin tức khác đến từ “Người mẹ Moskva bằng đá trắng” kể về những sự kiện khủng khiếp: “Hàng nghìn người bị hành quyết. Cổng Tverskaia và Cổng Kuznesky chìm trong khói lửa, Giáo đường Vasili Blazeni trở thành đống gạch vụn, Thánh đường Uspen biến thành tro bụi. Cổng Spas giữa lối vào Kremlin sắp đổ ụp xuống bất cứ lúc nào”. Ai ai cũng bất bình theo những chuyện kể hãi hùng trên.

Tất cả những điều mà người Bolsevich đã làm, không thể so sánh với những sự kiện khủng khiếp nói trên ngay giữa chốn thiêng liêng thầm kín của mỗi người Nga bình tường nhất. Những kẻ cả tin nhất thậm chí còn quả quyết, rằng nghe thấy tiếng nổ liên hồi như sấm dậy từ các họng súng, được bắn thẳng không thương tiếc vào các cứ điểm tôn giáo lâu đời, tàn phá thành tro bụi những gì từng là biểu tượng tinh thần của dân tộc Nga.

Người Bolsevich đã làm chủ thành phố ấy trong hai ngày nay. Những cư dân hoảng loạn đã rời khỏi hầm trú ẩn tản ra đi tìm người thân. Phố xá đang được thu dọn sạch các chướng ngại vật. Tuy vậy, những điều bịa đặt về sự tàn phá ghê rợn Moskva vẫn chưa ngừng, mà thậm chí còn tăng thêm… Chính bởi những tin đồn thất thiệt và đáng sợ này khiến chúng tôi quyết định lên đường tới Moskva.

Trong tuần vừa qua Ban chấp hành quân sự cách mạng Petrograd làm chủ tình thể với sự  giúp  đỡ  của  những  công  nhân  đường  sắt  bình  thường thuộc đoạn đường sắt Nikolaiev. Họ cử hết đoàn tàu này đến đoàn tàu khác đầy ứ các thủy thủ và binh lính Hồng quân tiến về phía đông nam. Người ta đã cấp giấy thông hành cho chúng tôi tại Điện Smolni, bất chấp sắc lệnh đặc biệt cấm người ngoại quốc rời khỏi thành phố… Khi tàu đến, đám đông hỗn độn ùa lên các toa xe qua cửa chính và cửa sổ, ngồi đầy giữa các khoảng trống lối đi, nhiều người thậm chí còn leo lên cả các nóc toa nữa. Ba người chúng tôi loay hoay mãi mới tới được khoang của mình, nhưng độ 20 binh sĩ đã ngồi chật trong khoang… Chỗ chỉ dành cho 4 người; chúng tôi cự nự và yêu cầu họ rời khỏi khoang theo số vé thứ tự ngay. Viên kiểm soát vé cũng ủng hộ chúng tôi, nhưng đám lính chỉ cười phá lên. Cớ sao họ phải chăm sóc cho một nhóm tư sản “hết thời” kia chứ! Chúng tôi liền chìa ra giấy thông hành đặc biệt do Điện Smolni cấp. Những người lính lập tức thay đổi ngay thái độ của mình.

“Chúng ta nên ra khỏi đây, thưa các đồng chí - một người trong số họ la to - Đây là các đồng chí người Mỹ! Họ đã vượt qua ba vạn cây số đường để đến chứng kiến cuộc cách mạng của chúng ta… Chắc là sức khỏe của họ suy sụp lắm rồi! Chúng ta cần để các đồng chí Mỹ nghỉ ngơi…”.

Sau khi tỏ ý xin lỗi một cách lịch thiệp và thân thiện, toán  lính lần lượt ra hết trả chỗ lại cho chúng tôi. Sau đó chúng tôi nghe thấy họ đấm thình thình vào cửa kính một khoang bên cạnh, bị khóa trái từ bên trong với hai người đàn ông Nga bệ vệ và chải chuốt đang tọa lạc - những kẻ đã hối lộ viên trưởng toa.

Quá nửa đêm chúng tôi đi qua những con phố vắng lặng. Rồi qua lối Cổng Iver đi vào quảng trường Đỏ rộng lớn kề Điện Kremlin. Ẩn hiện trong màn đêm chúng tôi vẫn thấy những ngọn tháp lô nhô của ngôi giáo đường Vasili Blazeni huyền thoại, chẳng thấy bất cứ  dấu hiệu hư hại nào cả. Bên kia quảng trường vẫn là những bức tường răng cưa cố hữu của Kremlin với những tháp nhọn bên trong nhô cao. Dọc bờ tường bập bùng những ánh lửa vô hình. Khắp quảng trường mênh mông bao quanh chúng tôi rộn rã tiếng gọi nhau í ới cùng với tiếng cuốc xẻng. Chúng tôi đã băng qua quảng trường.

Sát chân tường là những đống đất đen lớn. Khi trèo lên cao và nhìn vào bên trong, chúng tôi thấy có hai cái hố khổng lồ, nơi hàng trăm công nhân và binh lính đang dùng cuốc xẻng đào đất dưới ánh sáng của những đốm lửa lớn.

Người sinh viên trẻ tuổi nói với chúng tôi bằng tiếng Đức. “Đây là ngôi mộ chung của những người anh em - anh ta cho biết - Sáng mai chúng tôi sẽ chôn tại đây 500 chiến sĩ vô sản hy sinh vì cách mạng”.

Rồi anh dẫn chúng tôi xuống bên dưới. Xà beng và cuốc xẻng đang làm việc với tốc độ khẩn trương cùng các đống đất cứ lớn dần lên. Tất cả đều yên lặng. Bầu trời trên đầu chúng tôi dày đặc các vì sao và bức tường Kremlin đồ sộ ngạo nghễ một thời của Sa hoàng như  lọt thỏm giữa cõi vô biên đó.

 
“Ở đây, tại chính chỗ thiêng liêng này - chàng sinh viên nói - Chỗ thiêng liêng nhất trong cả nước Nga, chúng tôi sẽ chôn những vị Thánh của mình. Ngay tại chốn lăng tẩm của các triều  vua, sẽ  là ngôi mộ vị Vua vĩ  đại  của  chúng  tôi - nhân dân…”. Một cánh tay anh ta bị băng kín và treo lên bằng chiếc khăn dài - bị dính đạn trong những cuộc hỗn chiến trên đường phố. Chàng sinh viên chợt nhìn tay mình… “Các ông, những người ngoại quốc - anh ta tiếp tục - thường nhìn chúng tôi, những người Nga, từ  đầu đến chân, tại vì chúng tôi bị giam hãm trong chế độ phong kiến Trung cổ quá lâu rồi. Và chúng tôi tự  nhận thấy, rằng Sa hoàng không phải là tên bạo chúa duy nhất trên thế giới này; chủ nghĩa tư bản còn tệ hại hơn, nó lãnh đạo cả thế giới như một hoàng đế thực thụ… Không có chiến lược cách mạng nào hay hơn chiến lược Nga…”.

Khi chúng tôi đi ra, những công nhân và binh lính ướt đẫm mồ hôi bất chấp tiết trời giá rét, mệt nhọc vì quá sức đang từ từ  đi khỏi các miệng hồ. Giữa quảng trường Đỏ nhiều đám đông khác đang nhanh chóng chuẩn bị thế chỗ họ. Mọi người nhảy ùa xuống các hố, vớ ngay cuốc xẻng và không cần trao đổi một lời, cứ đào, đào mãi, đào mãi…

Cứ thế, trọn cả cái đêm dài dằng dặc này, những người tình nguyện thay nhau hết đợt này đến đợt khác, không ngơi nghỉ lấy một phút vì công việc khẩn trương của mình, và ánh sáng buổi bình minh buốt giá đã ló rạng phía chân trời, soi tỏ quảng trường mênh mông tuyết trắng với hai cái hố màu nâu đã sẵn sàng cho Nhà mồ chung của những người anh em.

Chúng tôi thức giấc trước khi mặt trời mọc và nhanh chân rảo bước theo những con phố tối đen hướng tới quảng trường Skobelev. Và cả cái thành phố khổng lồ này như thể không thấy một sinh vật sống nào hết. Nhưng từ tất cả các hướng đều vọng lại tiếng râm ran của các cuộc chuyển động, giống như những đợt sóng ngầm sắp dâng trào vậy. Trong ánh nhập nhoạng của buổi sớm mai trước tòa nhà các Xôviết có một nhóm đàn ông và phụ nữ đang quy tụ với rừng cờ đỏ ghi những chữ vàng - những lá cờ của Ban chấp hành Xôviết Moskva. Trời sắp sáng… Những tiếng râm ran từ  xa vọng tới ngày một gần, nghe rõ hẳn cùng những tiếng bước chân rầm rộ. Cả thành phố đi tuần hành. Chúng tôi đi về phía dưới hướng Cổng Iver, mang theo những lá cờ đỏ bay phần phật trên đầu. Các tụ điểm tôn giáo mà chúng tôi đi qua đều đóng chặt cửa. Bên trong tối om. Nhà thờ của dòng họ quý tộc Iver nổi danh, nơi một thời bất cứ vị vua mới nào sắp được trao vương miện trong Điện Kremlin cũng đều ghé qua đây, một tụ điểm tín ngưỡng thường rộng mở suốt ngày đêm và đông ngẹt các tín đồ. Bây giờ cũng cửa đóng then cài…

Các cửa hiệu cũng đóng cửa và những đại diện của giới có sở hữu ít nhiều thường ở lì trong nhà bởi nhiều nguyên nhân khác nhau. Ngày hôm nay là ngày của nhân dân và tiếng dồn dập vang vọng từ những bàn chân họ sẽ biến thành những ngọn sóng triều xua tan tất cả.

Qua Cổng Iver là một biển người đủ các sắc tộc đã tràn ngập quảng trường Đỏ. Tôi chợt nhận ra, rằng khi đoàn người đi qua nhà thờ Iver, chẳng ai còn làm dấu thánh như trước nữa…

Chúng tôi len qua những đám đông chật cứng dồn sát tới chân tường Kremlin và dừng lại trên một đống đất. Trên dải đất này có vài người đang đứng, trong đó có chiến binh Muralov, người vừa được chọn vào cương vị Tư lệnh Moskva - một nhân vật cao lớn, râu rậm với ánh nhìn chan chứa cùng vẻ mặt thân thiện.

Từ  tất cả các đường phố bao quanh quảng trường Đỏ những dòng người vẫn lũ lượt đổ đến. Hàng trăm nghìn người với số phận đói nghèo và bất hạnh cùng sự nhọc nhằn. Đoàn quân nhạc cũng đang đến. Vừa đi vừa thổi bài Quốc tế ca và các đám đông lập tức yên lặng nghiêng mình trước ca khúc bất tử, lần lượt mở lối như rẽ sóng cho các nhạc binh tiến vào lễ đài. Trên các đỉnh răng cưa của Kremlin người ta teo những lá cờ đỏ dài chấm đất, với những chữ trắng hoặc vàng: “Vì những người tuẫn tử tiền phong của cách mạng xã hội chủ nghĩa thế giới” và “Tình anh em giữa công nhân toàn cầu muôn năm!”.

Những ngọn gió buốt như kim châm thổi khắp quảng trường khiến các rừng cờ phấp phới. Bây giờ đến lượt giới công nhân của các nhà máy và xí nghiệp từ những khu vực xa xôi nhất của thành phố đang tiến lại gần; họ mang đến đây những tử sĩ của mình. người ta có thể mục kích họ đi qua các cổng vào quảng trường như thế nào, dưới những lá cờ bằng nhung tuyết, họ mang trên vai những cỗ quan tài đỏ như máu. Đó là những cái hòm thô kệch từ những tấm ván chắp nối cập kênh, được quét bằng sơn đỏ và những con người với nét mặt chất phác ngập trong nước mắt. Sau các cỗ áo quan là những đám phụ nữ, đang gào lên vì thương tiếc, hoặc câm lặng như hóa đá cùng lê bước như những cái xác không hồn; nhiều quan tài vẫn đang mở và những người phía sau khiêng nắp riêng ra; những cỗ áo quan khác lại được phủ gấm vàng hoặc bạc, hay trên các nắp đậy người ta đặt những chiếc mũ cát-két của người quá cố. Cũng có rất nhiều vòng hoa tự làm lấy nữa…

Đoàn người chậm rãi tiến về phía chúng tôi đang đứng với đội hình xiêu vẹo vì sự thương tiếc tột cùng. Những dòng cờ đỏ vô tận vẫn tiếp tục diễu qua các lối vào quảng trường, với đủ kiểu, đủ kích cỡ cùng với những dòng chữ vàng hoặc bạc dán lên đó, với những chuôi cán bịt sắt nhọn hoắt. Có cả một vài lá cờ của nhóm vô chính phủ nữa, màu đen với chữ trắng. Quân nhạc cử hành khúc Chia hồn tử sĩ, và cả đám người đầu trần đang đứng nghiêm đều trầm mặc hát theo. Giọng hát trầm hùng thường bị đứt đoạn bởi những tiếng thổn thức…

Giữa đoàn công nhân là các thê đội chiến binh với những chiếc quan tài y hệt, được đám đông binh lính hộ tống - các đại đội kỵ binh cùng các khẩu pháo, nòng súng được phủ bằng chất liệu màu đỏ và đen theo nghi lễ truyền thống. Trên cờ của lực lượng Hồng quân là các dòng chữ: “Quốc tế Đệ tam muôn năm!”, hoặc: “Chúng tôi muốn một nền hòa bình với dân chủ và bình đẳng cho mọi người!”. Đoàn chôn cất tiếp tục tiến tới những ngôi mộ chung đã đào sẵn và người ta lần lượt hạ các áo quan xuống huyệt. Rất nhiều phụ nữ mang vác quan tài - họ là những nữ binh vô sản khỏe mạnh và hăng hái; còn theo sau họ là những phụ nữ khác - trẻ  và già  cùng sự  thương tiếc khôn
nguôi… Rất nhiều người nhảy xuống hầm mộ như không muốn rời xa chồng con của mình, ôm chặt lấy đống áo quan khiến người ta phải gỡ mãi mới ra được. Những người nghèo yêu thương nhau như  thế đó…

Trong suốt cả cái ngày dài dằng dặc này cho đến tận tới chiều tối, quá trình tang lễ được tiếp nối không ngừng. Mọi người đưa các quan tài từ  Cổng Iver vào chôn bên chân tường Kremlin và đi ra theo ngả phố Nikol cạnh đó. Những dòng cờ đỏ cuồn cuộn cùng các hàng chữ về tình bạn bè và niềm hy vọng, đã đánh bạt những lời “tiên tri” nhỏ nhen. Các ngọn cờ tung bay trên nền một cái đám đông 50 ngàn người này sẽ được tất cả những người lao động trên thế giới cũng như con cháu họ ghi nhận, mãi mãi sẽ được khắc sâu vào tâm khảm nhân loại muôn đời sau…

Người này tiếp người khác đã quy tập trong nấm mồ chung 500 cỗ quan tài. Màn đêm đã buông xuống, nhưng các lá cờ vẫn cứ lồng lộng trước những luồng không khí lạnh, bài Hồn tử sĩ vẫn ngân vang và mọi người vẫn cùng hòa âm trong tinh thần mặc niệm…

Rồi những ngọn đèn được bật lên. Lá cờ cuối cùng đã diễu qua, người quả phụ cuối cùng cũng đã đi qua, trả lại tâm trạng não nề cho đám đông. Cuộc quy tập mộ liệt sĩ vô danh đã kết thúc, làn sóng vô sản lặng lẽ rời quảng trường Đỏ.

Bất chợt tôi tự  hiểu ra rằng, nhân dân Nga khốn cùng chẳng cần đến thần thánh nữa, từng “giúp” họ cầu nguyện hướng lên bầu trời của bạo chúa. Dân tộc này đã cần mẫn vì một vương quốc, cái vương triều chẳng giống bất cứ nơi nào, cái vương quốc mà hạnh phúc có nghĩa là chết…

T.Q.LONG (dịch) 1  2   

Lịch sử tạp chí Văn nghệ quân đội

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Giữa lúc cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp đang diễn ra gay go và ác liệt nhất, tại chiến khu Việt Bắc mùa đông năm 1949 xuất hiện tờ Sinh hoạt Văn nghệ đăng tải những sáng tác văn học mới của các cây bút trong bộ đội cùng những bản dịch, những tin tức hoạt động văn nghệ trong các lực lượng vũ trang. Sinh hoạt Văn nghệ không định kỳ, chỉ xuất bản mỗi khi có những chiến dịch mới, sau những chiến thắng. Sinh hoạt Văn nghệ in trên thứ giấy mỏng và hẩm gọi là giấy dó và phát không cho các chiến sĩ. Đây chính là tớ báo tiền thân của Văn nghệ Quân đội.

1957

         Tháng giêng, tạp chí VNQĐ thuộc Tổng cục Chính trị Quân đội Nhân dân Việt Nam ra mắt số đầu tiên tại Thủ đô Hà Nội, tháng năm tạp chí chính thức ra mắt bạn đọc rộng rãi trong cả nước với tôn chỉ: Là tờ tạp chí sáng tác và bình luận văn nghệ của các lực lượng vũ trang nhân dân Việt Nam, nơi hội tụ của các nhà văn quân đội và bạn viết cả nước; đồng thời là một địa chỉ phát hiện và bồi dưỡng những tài năng văn học trẻ
        Ban biên tập đầu tiên của Tạp chí gồm các nhà văn: Văn Phác (chủ nhiệm), Vũ Cao, Lưu Trùng Dương, Minh Giang, Từ Bích Hoàng, Mai Văn Hiến (hoạ sĩ), Nguyễn Khải, Hữu Mai, Vũ Tú Nam, Nguyên Ngọc, Hà Mậu Nhai, Đỗ Nhuận (nhạc sĩ), Nguyễn Trọng Oánh, Hồ Phương, Vũ Sắc, Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Ngô Thông, Xuân Thiêm, Tạ Hữu Thiện, Thanh Tịnh (thư ký toà soạn), Văn Phác.
        Tạp chí gồm 76 trang, khổ 19. 27cm, ra hàng tháng. Trụ sở toà soạn đặt tại số 4- phố Lý Nam Đế (Hà Nội) - một con phố nằm sát tường thành cổ   Hà Nội, trước đây gọi là phố tướng Giốp
1959
       
     Ngay sau khi cuộc đấu tranh chống tư tưởng sai lầm Nhân văn giai phẩm đã ngã ngũ, tạp chí đã tổ chức cuộc thi truyện ngắn đầu tiên Viết về đời sống bộ đội trong hoà bình hai năm 1958-1959. Kết quả: Giải nhất, không có; Giải nhì được trao cho các tác giả: Anh Mộng với truyện ngắn Tôi bị hy sinh, Xuân Khánh với Một đêm, Phù Thăng với Con những người du kích, Lê Sỹ Thắng với Sang sông, Quang Hà với
Theo đường dây số 6
    Do có thành tích xuất sắc trong việc bảo vệ đường lối Văn nghệ của Đảng, phục vụ kịp thời bạn đọc, được nhân đân và bộ đội yêu mến, tin cậy, tạp chí đả được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất
1963
          Quán triệt nghị quyết Trung ương lần thứ 15 về chuyển hướng cách mạng miền Nam, tạp chí Văn nghệ Quân đội được giao nhiệm vụ quan trọng là lựa chọn, bồi dưỡng những cây bút có khả năng và điều kiện đi chiến trường, “ đi B’’, sau chuyến đi của Thanh Giang, Thu Bồn...là chuyến đi của Nguyễn Ngọc Tấn (Nguyễn Thi), Nguyên Ngọc. Đây là những nhà văn đi B đầu tiên của tạp chí. Tiếp đó làn lượt là những chuyến đi “ B dài” của Văn Phác (Tám Trần), Nam Hà (Trúc Hà), Nguyễn Trọng Oánh (Nguyễn Thành Vân), Lưu Trùng Dương...các chuyến đi “B ngắn’’của Hữu Mai, (Trần Mai Nam), Phạm Ngọc Cảnh (Vũ Ngàn Chi), Xuân Sách (Lê Hoài Đăng), Xuân Thiều (Nguyễn Thiều Nam), Hồ Phương (Hồ Huế), Nguyễn Khải, Triệu Bôn, Thanh Tịnh, Hải Hồ, Nguyễn Minh Châu...
         Sau khi đồng chí Văn Phác được phái vào chiến trường, nhà thơ Thanh Tịnh được bổ nhiệm làm Chủ nhiệm (Tổng biên tập), nhà thơ Vũ Cao được bổ nhiệm làm Phó Chủ nhiệm tạp chí Văn nghệ Quân đội.
1964
       Các nhà văn Nguyễn Thi (Nguyễn Ngọc Tấn), Thanh Giang, Nguyễn Trọng Oánh, Võ Trần Nhã, Minh Khoa...dưới sự chỉ đạo trực tiếp của đồng chí Văn Phác (lúc này là Chủ nhiệm cục Chính trị Quân giải phóng miền Nam) đã cho xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng tại chiến trường Nam Bộ. Sau đó, ở chiến trường Khu 5, các nhà văn Nguyên Ngọc (Nguyễn Trung Thành), Nguyễn Chí Trung, Thu Bồn, Phan Tứ, Vương Linh...cũng được giao nhiệm vụ xuất bản tờ tạp chí Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ
         Có thể coi các tờ Văn nghệ Quân giải phóng xuất bản ở chiến trường miền Nam những năm chống Mỹ cứu nước là “ cánh tay nối dài”, là những nhánh nhỏ của Văn nghệ Quân đội.
1965
       Tạp chí Văn nghệ Quân đội đổi khổ, từ khổ 19 . 27 cm sang khổ 15 .19 nhỏ hơn cho phù hợp với hoàn cảnh chiến đấu của bộ đội ta tại chiến trường. Với khổ nhỏ này, tạp chí Văn nghệ Quân đội có thể nằm gọn trong “túi cóc’’ của chiếc balô dã chiến; đồng thời với việc đổi khổ, tạp chí còn tăng thêm trang, mở thêm mục...và phát hành với số lượng rất lớn, từ 150.000 – 180.000 bản/ kỳ. Phần bìa, minh hoạ, trình bày vẫn do các hoạ sĩ Huy Toàn, Văn Đa, Quang Thọ, Hà Trì...thay nhau đảm nhiệm.
          Các tác phẩm Người mẹ cầm súng của Nguyên Thi, Rừng xà nu của Nguyên Ngọc, Chuyện làng Rapồng của Nguyễn Thiều Nam (Xuân Thiều)         
được trao Giải thưởng văn nghệ Nguyễn Đình Chiểu – giải thưởng của UBTƯ Mặt trận dân tộc Giải phóng miền Nam Việt Nam.
1968
        Ngày 9 tháng 5 , nhà văn Nguyễn Thi hy sinh trên đường Minh Phụng  (nay là đường Nguyễn Thi, thành phố Hồ Chí Minh ) trong cuộc Tổng tấn công Tết Mậu Thân, 1968, của quân và dân ta vào sào huyệt của Mỹ – Nguỵ
1970
        Nhà thơ Vũ Cao, thay nhà thơ Thanh Tịnh (về hưu) làm Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà văn Từ Bích Hoàng được bổ nhiệm làm Phó Tổng Biên tập.
1973
       Hội Nhà văn Á–Phi trao Giải thưởng Hoa sen (Lôtus) cho nhà văn Nguyên Ngọc và nhà thơ Thu Bồn vì có những tác phẩm xuất sắc viết về cuộc chiến tranh giải phóng của nhân dân ta. Đó là các tác phẩm Đường chúng ta đi, Đất Quảng , Bài ca chim Chơ rao.
1977
       Một số nhà văn từ các tờ Văn nghệ Quân giải phóng Văn nghệ Quân giải phóng Trung Trung Bộ trở về Hà Nội. Các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh, Xuân Thiều, Nguyên Chí Trung được bổ nhiệm làm Phó Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội (nhà văn Nguyễn Trọng Oánh làm Phó Tổng phụ trách, thường trực). Nhà thơ Vũ Cao chuyển ngành ra Hội Văn nghệ Hà Nội (Giám đốc Nhà xuất bản Hà Nội). Thư ký Toà soạn là nhà văn Hải Hồ. Đây là thời kỳ “nhà số 4” tập trung đông nhà văn nhất với rất nhiều tên tuổi: Nam Hà, Xuân Sách, Nguyễn Minh Châu, Mai Ngữ, Lê Lựu, Triệu Bôn, Nguyễn Thị Như Trang, Bùi Minh Quốc, Thanh Quế, Nguyễn Bảo (văn xuôi), Duy Khán, Phạm Ngọc Cảnh, Anh Ngọc, Nguyễn Đức Mậu, Vương Trọng, Gia Dũng (thơ), Nhị Ca, Vương Trí Nhàn, Ngô Thảo, Lê Thành Nghị (lý luận –phê bình), Hà Trì, Trương Hạnh (hoạ sĩ). Trưởng ban Trị sự là dịch giả Doãn Trung, trước đó là Phương Đình Lợi, Đào Lộc Bình, Minh Thước, sau đó Phạm Ngọc Cảnh, Trương Hạnh, Phạm Huy Tưởng, Lê Hồng Quân.
1980
       Tập trường ca Đường tới thành phố của nhà thơ Hữu Thỉnh được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam
1981
       Kết thúc cuộc thi truyện ngắn lần thứ hai do tạp chí Văn nghệ Quân đội tổ chức hướng tới Kỷ niệm 25 năm tạp chí ra số đầu tiên (1957-1982). Giải nhất được trao cho Nguyễn Thị Minh Thư với truyện ngắn Có một đêm như thế.
1982
       Một loạt các nhà văn trưởng thành từ cuộc Kháng chiến chống Mỹ cứu nước, vừa tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du (khoá 1) được bổ sung về toà soạn Văn nghệ Quân đội: Hữu Thỉnh, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thuỵ, Thao Trường (Nguyễn Khắc Trường), sau đó là Trung Trung Đỉnh, trước đó là Hồng Diệu (từ BTL Thông tin), Ngô Vĩnh Bình (từ Quân khu Thủ đô) cũng đã có mặt ở “nhà số4”
       Nhà văn Dũng Hà, nguyên là Chủ nhiệm chính trị Bộ Tư lệnh Đặc công được bổ nhiệm chức vụ Tổng Biên tập tạp chí Văn nghệ Quân đội, nhà văn Hồ Phương là Phó Tổng biên tập.
         Tiểu thuyết Gặp gỡ cuối năm của nhà văn Nguyễn Khải được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
1984
           Kết thúc cuộc thi truyện ngắn Tạp chí Văn nghệ Quân đội lần thứ 3 nhân Kỷ niệm 40 năm thành lập Quân đội (1944-1984). Giải nhất: Khuất Quang Thuỵ với truyện ngắn Anh Sức, Lê Thị Thanh Minh với truyện ngắn Cha con và Lương Hiền với Tiếng bom hoà bình.
          Tác phẩm Nguyễn Thi – gương mặt còn lại (tập tiểu luận ) của Nhị Ca được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
   
1986
       Tiểu thuyết Đất trắng của nhà văn Nguyễn Trọng Oánh và tập truyện ngắn Gíó từ miền cát của nhà văn Xuân Thiều được trao Giải thưởng Hội Nhà văn.
         Nhà thơ Hữu Thỉnh – Trưởng ban Thơ được bổ nhiệm chức vụ Phó Tổng Biên tập Tạp chí VNQĐ.   
         Kết thúc cuộc thi truyện ngắn lần thứ 4 nhân Kỷ niệm 30 năm tạp chí Văn nghệ Quân đội. Giải nhất được trao cho Trần Quốc Huấn với các truyện ngắn Vùng biển thẳm, Người đi đêm không sợ ma, Bên ấy trước có người ở.
          Tiểu thuyêt Thơi xa vắng của nhà văn Lê Lựu được Giải thưởng Hội Nhà văn.
1989
        Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 4 bầu ra Ban chấp hành mới gồm 9 nhà văn, trong đó có 6 người từng và đang công tác ở tạp chí VNQĐ là Vũ Tú Nam (Tổng Thư ký), Nguyễn Khải, Nguyên Ngọc, Chính Hữu, Hữu Mai, Hữu Thỉnh.
         Các nhà văn Nguyễn Trọng Oánh với tiểu thuyết Đất trắng, Khuất Quang Thuỵ với tiểu thuyết Không phải trò đùa, Nguyễn Đức Mậu với tập thơ Hoa đỏ nguồn sông, Vương Trọng với tập thơ Những ngày xa, Nguyễn Minh Châu với toàn bộ những sáng tác về cuộc Kháng chiên chống Mỹ cứu nước, Nguyễn Trí Huân với tiểu thuyết Chim én bay, Hữu Mai với tiểu thuyết Ông cố vấn được trao Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng lần thứ nhất( 1985-1989).
          Tạp chí VNQĐ được thưởng Huân chương Chiến công hạng Nhất.
1990
        Kết thúc cuộc thi truyện ngắn và thơ (1989-1990). Giải nhất truyện ngắn được trao cho Y Ban với Bức thư gửi mẹ Âu CơChuyện một người đàn bà. Giải nhất về thơ, không có.
         Nhà văn Hồ Phương, Phó Tổng Biên tập Tạp chí VNQĐ được thăng quân hàm Thiếu tướng.
1991
       Tiểu thuyết Mảnh đất lắm người nhiều ma của nhà văn Nguyễn Khắc Trường được trao Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam.
        Nhà thơ Hữu Thỉnh được điều động ra làm Tổng Biên tập tuần báo Văn nghệ (Hội Nhà văn Việt Nam), nhà văn Nguyễn Trí Huân được bổ nhiệm làm Phó Tổng Biên tập Tạp chí VNQĐ.
1992
       Nhà văn Dũng Hà, Tổng Biên tập tạp chí VNQĐ được thăng quân hàm Thiếu tướng.
1993
       Nhà văn Nguyễn Trí Huân được bổ nhiệm Tổng Biên tập tạp chí VNQĐ, các nhà văn Nguyễn Bảo, Lê Thành Nghị được bổ nhiệm làm Phó Tổng Biên tập.
1994
       Kết thúc cuộc thi truyện ngắn (1992-1994) do Tạp chí VNQĐ tổ chức. Giải nhất được trao cho nhà văn Nguyễn Thị Thu Huệ với hai truyện ngắn Hậu thiên đườngMùa đông ấm áp.
        Các nhà văn Hữu Thỉnh với Trường ca Biển, Nguyễn Đức Mậu với tập thơ Hoa đỏ nguồn sông, Vương Trọng với Đảo chìm, Chu Lai với tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng, Ngô Vĩnh Bình với Nẻo vào vă học (tiểu luận- phê bình), Lê Thành Nghị với Văn học sáng tạo và tiếp nhận, Xuân Thiều với tập truyện ngắn Xin đừng gõ cửa, Nam Hà với bộ Đất miền Đông được trao Giải thưởng văn học Bộ Quốc phòng lần thứ 2 (1989 – 1994).
          Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 5 đã bầu nhà thơ Hữu Thỉnh làm Phó Tổng Thư ký nhà văn Nguyễn Trí Huân làm Uỷ viên BCH hội.
1995
       Tập thơ Thư mùa đông của Hữu Thỉnh được Giải thưởng Hội Nhà văn.
1996
       Kết thúc cuộc thi truyện ngắn chào mừng Kỷ niệm 40 năm tạp chí VNQĐ (1957-1997) giải nhất được trao cho Trần Thanh Hà với chùm truyện ngắn Miền cỏ hoang, Bà Thỏn, Sông có dài.
  
1998
       Xuất bản tờ Phụ san tạp chí Văn nghệ Quân đội, 24tr, mỗi tháng hai kỳ, sau tăng lên mỗi tháng ba kỳ bên cạnh tờ tạp chí ra hàng tháng
        Nhà văn Nguyễn Khải được tặng Giải thưởng Hội Nhà văn với tập Truyện ngắn và Tạp văn.
1999
        Tập thơ Cánh rừng nhiều đom đóm bay của nhà thơ Nguyễn Đức Mậu được trao Giải thưởng Hội Nhà văn.
         Các nhà văn: Nguyễn Bảo với tập truyện ngắn Qùa tặng, Nguyễn Thị Như Trang với tập Chuyện thời con gái, Hồng Diệu với tập tiểu luận- phê bình Nhà văn, trang sách, Trung Trung Đỉnh với tiểu thuyết Lạc rừng được trao Giải thưởng văn học bộ Quốc phòng lần thứ 3. 
         Nhà thơ Hữu Thỉnh được Giải thưởng văn học ASEAN (Giải thưởng văn học Đông- Nam Á).
         Kết thúc cuộc thi sáng tác văn học Hướng tới Giao thừa thế kỷ của Tạp chí VNQĐ (1998-1999). Về truyện ngắn, giải Nhất, Đỗ Bích Thuý với chùm truyện Ngải đắng ở trên núi, Sau những mùa trăng, Đêm cá nổi. Bút ký và Thơ, không có giải Nhất.
         Nhà văn Nguyễn Chí Trung, Trợ lý Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu, nguyên Phó Tổng Biên tập Tạp chí VNQĐ được phong quân hàm Thiếu tướng. Như vậy, “nhà số 4’’đã có 4 nhà văn cấp tướng là Văn Phác, Hồ Phương, Dũng Hà, Nguyễn Chí Trung.                            
2000
       Tháng 4, Đại hội Nhà văn Việt Nam lần thứ 6, các nhà văn Hữu Thỉnh, Nguyễn Trí Huân, Thanh Quế, những nhà văn đã và đang công tác ở VNQĐ đqợc bầu vào Ban chấp hành Hội. Nhà thơ Hữu Thỉnh được bầu làm Tổng Thư ký, nhà văn Nguyễn Trí Huân làm Phó Tổng thư ký.
        Nhà văn Nguyễn Khải được nhận Giải thưởng ASEAN.
        Kết thúc cuộc thi Thanh niên với Lịch sử cách mạng do Tạp chí VNQĐ tổ chức (từ tháng 3 – 2000). Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu đến dự và trao giải đặc biệt cho Bộ đội Trường Sa, Bộ trưởng Quốc phòng, Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, Bí thư thứ nhất Ban chấp hành Trung ương ĐTNCS Hồ Chí Minh đả trao 3 giải nhất cho Quân chủng Phòng không- Không quân, Bộ đội Biên phòng và Quân đoàn 4.
         Ngày1 tháng 9, Chủ tịch nước đã ký Quyết định số 392KT/CTN tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 2) về văn học- nghệ thuật cho các nhà văn Nguyên Thi với các tác phẩm Người mẹ cầm súng, Trăng sáng, Đôi bạn , Ở xã Trung Nghĩa; Nguyễn Minh Châu với Dấu chân người lính, Cửa sông , Cỏ lau, Người đàn bà trên chuyến tàu tốc hành; Nguyển Khải với Xung đột, Gặp gỡ cuối năm, Cha và con và...
2001
       Ngày 21 tháng 8, Chủ tịch nước ký quyết định tặng Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật cho 174 tác phẩm, cụm tác phẩm, trong đó có 12 nhà văn đã và đang công tác ở Tạp chí VNQĐ là Thu Bồn, Vũ Tú Nam, Hữu Thỉnh, Nguyễn Đức Mậu, Trần Đăng Khoa, Lê Lựu, Nguyên Ngọc, Hữu Mai, Nguyễn Trọng Oánh, Vũ Cao, Hồ Phương, Xuân Thiều (nhà văn Nguyên Ngọc có đơn từ chối không nhận giải thưởng).
        Nhà thơ Nguyễn Đức Mậu được nhận Giải thưởng văn học ASEAN.
        Kết thúc hoạt động xuất bản tờ Phụ san Văn nghệ Quân đội sau 4 năm với 123 số để chuyển sang xuất bản tờ Tạp chí VNQĐ 2 kỳ/ tháng vào năm 2002.
       Ban Biên tập Tạp chí VNQĐ được kiện toàn: Tổng Biên tập Nguyễn Trí Huân, các Phó Tổng Biên tập Nguyễn Bảo, Lê Thành Nghị, các ban: văn xuôi, Khuất Quang Thuỵ- trưởng ban, Trung Trung Đỉnh, Đỗ Bích Thuý, Sương Nguyệt Minh, Nguyễn Đình Tú; ban thơ, Nguyễn Đức Mậu – trưởng ban, Nguyễn Hữu Quý ; ban Lý luận- Phê bình, Ngô Vĩnh Bình- trưởng ban, Trần Đăng Khoa, Nguyễn Hoà, Phạm Thu Quỳnh; ban sáng tác- phóng viên Nam Hà, Chu Lai, Anh Ngọc, Lê Lựu, Vương Trọng, Quách Đại Hải ; ban hành chính – trị sự, Lê Quân- trưởng ban, Vũ Thị Thơm, Trần Thị Bình, Trần Thị Lâm ; biên tập trang văn học nưóc ngoài, Hồng Diệu; mỹ thuật , Xuân Hải ; nhạc Minh Quang; thường trực phía Nam, Đỗ Viết Nghiệm- trưởng đại diện, Nguyễn Quốc Trung.
2002
       Kỷ niệm 45 năm Tạp chí VNQĐ xuất bản số đầu tiên (1. 1957- 1. 2002).
      Chủ tịch nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam phong tặng danh hiệu Đơn vị Anh hùng Lực lượng vũ trang nhân dân cho tạp chí Văn nghệ Quân đội vì đã có thành tích đặc biệt xuất sắc trong Kháng chiến chống Mỹ cứu nước.
        Xuất bản Tạp chí VNQĐ hai kỳ/ tháng. Số đầu phát hành vào ngày 10, số cuối tháng phát hành vào ngày 20. Số lượng phát hành 28 – 30. 000 bản/ số. Cả tháng xấp xỉ 30. 000 bản.
  
2004
        Nhân dịp Kỷ niệm 60 năm ngày thành lập Quân đội nhân dân Việt Nam (1944- 2004), Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã trao Giải thưởng Bộ Quốc phòng về văn học – nghệ thuật (lần thứ 5) cho 16 tác giả loại A, 52 tác gỉa loại B, 66 tác giả loại C và 81 tác giả loại khuyến khích thuộc các thể loại Văn học, sân khấu, điện ảnh, mỹ thuật, nhiếp ảnh, múa, âm nhạc và báo chí.
         Riêng văn học ở Tạp chí VNQĐ có các nhà văn: Nguyễn Đức Mậu với tập thơ Bầy chim lá màu vàng, Khuất Quang Thuỵ với tiểu thuyết Những bức tường lửa ( giải A), Nam Hà với Ngày rất dài, Nguyễn Bảo với Aỏ ảnh, Chu Lai với Khúc bi tráng cuối cùng, Ngô Vĩnh Bình với Chuyện thơ, chuyện đời; Nguyễn Hữu Quý với Sinh ở cuối dòng sông ( loại B), Sương Nguyệt Minh với Trong cơn đại hồng thuỷ , Vương Trọng với Hơi thở rừng hồi (loại C). 
           Về báo chí, Ngô Vĩnh Bình và Sương Nguyệt Minh được Giải khuyến khích.
           Kết thúc Cuộc thi Thơ và Ký do Tạp chí VNQĐ tổ chức trong hai năm 2002-2004. Kết quả, giải nhất- về thơ, không có, giải nhì thuộc về Vũ Bình Lục, Nguyễn Thị Trà Giang vàTrần Kim Hoa; về ký, nhất Lương Ngọc An với Những người thợ săn trên biểnĐất đai thầm kể, Đỗ Tiến Thuỵ với Ở nơi rừng thẳm, Ngô Khắc Tài với Hoài niệm ÔTàsóc.
           Giải thưởng Hội Nhà văn năm 2003 (xét tặng năm 2004) không có giải A, giải B trao cho Trần Mạnh Hảo với Thơ lục bát, Lê Thành Nghị với Mùa không gió, InsaRa với Lễ tẩy trần tháng tư, Lê Văn Thảo với Cơn giông, Vương Trí Nhàn với tập Cây bút, đời người và Trần Đình Hiến với bản dịch tập Đàn hương hình.
           Bộ Quốc phòng tổ chức Chương trình đầu tư sáng tác về dề tài chiến tranh cách mạng với thể loại tiểu thuyết sử thi và nghiên cứu văn học. Ngay từ những ngày đầu phát động, đả có 30 nhà văn đăng ký tham dự. Trong đó đa phần là các nhà văn ở “ nhà số 4”.
2005
       Các nhà văn Nguyễn Hoà, Trung Trung Đỉnh, Trần Đăng Khoa...chuyển công tác ra báo Nhân Dân, báo Văn nghệ, ban Văn nghệ Đài Tiếng nói Việt Nam.
         Đại hội Đảng bộ tạp chí VNQĐ lần thứ 2 (nhiệm kỳ 2005-2010) đã bầu các đồng chí Nguyên Bảo, Nguyễn Trí Huân, Ngô Vĩnh Bình, Nguyễn Hữu Quý, Khuất Q       uang Thuỵ vào BCH Đảng uỷ. Đồng chí Nguyễn Bảo được bầu làm Bí thư. Các đồng chí Nguyễn Bảo, Ngô Vĩnh Bình và Đỗ Bích Thuý được cử đi dự Đại hội Đảng bộ Cơ quan Tổng cục Chính trị                                                                                             
2006
        Nhà văn Nguyễn Trí Huân được điều động (biệt phái) ra làm Tổng Biên tập báo Văn nghệ. Từ tháng 5 năm 2005, nhà văn Nguyễn Bảo làm Tổng Biên tập tạp chí VNQĐ.
         Các nhà văn Đỗ Tiến Thuỵ, Nguyễn Thế Hùng (Tốt nghiệp Trường viết văn Nguyễn Du), Phùng Văn Khai (Truyền hình Quân đội) về công tác tại Tạp chí VNQĐ.
         Tạp chí VNQĐ tổng kết cuộc thi truyện ngắn nhân Kỷ niệm 50 năm tạp chí ra số đầu tiên. Nhà văn Vũ Xuân Tửu được trao giải Nhất với chùm truyện : Chuyện ở bản Piat, Cỏng hò, Bí mật cuốn gia phả.
2007
       Ngày 18 tháng Giêng, Lễ kỷ niệm trọng thể 50 năm Tạp chí VNQĐ được tổ chức tại Hà Nội. Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết gửi thư chúc mừng. Cũng tại lễ kỷ niệm, tạp chí đã trao giải cho các tác giải thưởng trong cuộc thi truyện ngắn.
        Lễ trao Giải thưởng Hồ Chí Minh, Giải thưởng Nhà nước về văn học – nghệ thuật được tổ chức tại Nhà hát Lớn (Hà Nội). Trong số 158 tác giả được Giải thưởng Nhà nước có 11 nhà văn đang và đã công tác tại Tạp chí VNQĐ là: Thanh Tịnh, Nhị Ca, Phùng Quán, Nam Hà, Phạm Ngọc Cảnh, Chu Lai, Vương Trọng, Nguyễn Khắc Trường, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thuỵ, Trung Trung Đỉnh.
         Nhà văn Đỗ Bích Thuý được phân công nhiệm vụ Thư ký Toà soạn Tạp chí VNQĐ.

Không phải chuyện của mình?

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

- Chả biết nó đến đây ăn hay để cãi nhau với mình.


 
Ông chủ hàng xôi vừa đưa tôi đĩa chả vừa nói nhăn nhó.


- Gì vậy?


- Cáu quá cơ, tao vừa đuổi nó i xong. Nước ngoài nước trong gì mà rắn như cục gạch. Đã bảo là xôi đầy bảy nghìn rồi mà nó cứ làu bàu, không chịu trả tiền?


- Ai?


- Cái con mẹ vẫn đứng ở cửa hàng kia kìa.


Theo tay chỉ, tôi thấy một người nước ngoài diện áo hai dây, quần lụa “chính hãng hàng Bông” Hà Nội đang nhăn nhó với cậu phục vụ. Cậu phục vụ ra s
ức xua tay, còn người nước ngoài thì cố dúi tờ năm nghìn, miệng nói tiếng Pháp lùa phùa.


- Lúc vào, nó đã hỏi bao nhiêu tiền, mình bảo là nhìn lên bảng giá. Vậy mà giờ còn lắm chuyện. Chắc nó nghĩ mình bóp chẹt nó. Bực cả mình. Mà có biết tiếng nó đâu mà giải thích.


Tiếng đôi co, giọng kể diễn cảm của ông chủ làm mọi người trong quán ngẩng lên nhìn. Có người ngó cái rồi lại cúi xuống ăn.


Người khách nước ngoài sau một hồi nhăn nhó liền bỏ đi.


Mấy cậu sinh viên bấm nhau, chỉ chỏ, phiên dịch lại, và cười.



Vẻ khổ sở của người khách nước ngoài làm tôi suýt để nguậy cả suất xôi chả. Cứ băn khoăn không hiểu người khách nước ngoài sẽ nghĩ gì về người Việt Nam. Rồi tôi lại  tiếc: Giá mà mình biết tiếng Pháp để giải thích dùm. Giá mà người bán hàng ở các phố cổ, thường xuyên đón du khách nước ngoài biết một chút ngoại ngữ giao tiếp. Và, nếu những người biết tiếng Pháp trong quán, khi chứng kiến cảnh ấy không cười như thế, mà đứng lên giúp họ gỡ rối, hẳn, sẽ bớt người nước ngoài hiểu nhầm về Việt Nam.

                                                                                    
Quỳnh Linh

Sư tử công sở

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Xưởng in, lúc đầu ca. Hà chắm chú kiểm tra mấy tờ lệnh in.

Giám đốc bước vào khi nào anh cũng không biết. Để đến khi giám đốc làm rơi bản in thử Hà mới giật mình ngẩng lên. - Ôi, xin lỗi chú, cháu không biết chú vào. - Không sao, thấy miệt mài chú không nỡ gọi. Chú chỉ định kiểm tra mấy bản in thử. Cũng tự tìm thấy đây rồi. Nhưng mà này, còn bản in thử của  đơn A đâu? - Dạ để cháu xem lại. - Không có đâu. Chú ngó rồi. Có lẽ cháu lên phòng chế bản hỏi xem có cất không. Lấy về đây cho chú. Chú ngồi tranh thủ kiểm tra lại chỗ này.

Hà lúng búng định hỏi lại là sao mà chú phải cất công xuống tận đây để kiểm tra, xong lại chạy ù đi. Đầu nghĩ: Chắc là hàng quan trọng đây, chắc là đơn hàng của “víp”, mình đừng có tọc mạch.

Đến phòng chế bản, Hà truyền đạt lời xếp không thiếu một chữ, nhưng mấy chị vi tính cứ nhẩn nha ngồi chải đầu, một điều “đã bảo không có gì thay đổi sửa sang, y nguyên ca trước, thì cần gì phải xem lại”, hai điều lại “đã bảo, không có gì…” Hà phải đứng thuyết phục một lúc mới khiến các chị buông lược, lấy cho. Chạy ù về xưởng đã thấy giám đốc đứng chống nạnh ở cửa. Nét mặt đăm đăm.- Sao mà lâu vậy? Lại rẽ vào đâu chè cháo hả? - Không chú ạ, cháu phải đợi vì các chị bận việc, vả lại các chị bảo không có gì thay đổi. - Ai bảo không có gì thay đổi, còn chưa ra bản in thì còn được sửa chữa. Quy định bao năm thế rồi. Việc gì quan trọng hơn việc giám đốc giao?

Hà nhăn nhó gãi đầu.

Chuyện tưởng qua đi, nào ngờ tan ca, Hà được mấy chị phòng chế bản đón ngay ở cổng. Lời lẽ xô chen không có kẽ nào cho Hà chen lời. Rằng là, mày lớn mà tính trẻ con, có tí cũng mách. Nào là, đàn ông không ra đàn ông. Rồi là, chứ không mà xếp lại xuống nhắc nhở chị em: Khi làm việc, tất cả phải tuân lệnh giám đốc, không được cãi, không được nhờn.

Hà cười trừ: Thôi em xin các chị, em thì làm sao mà cãi nhau được với các chị. Sự thật là sự thật. Đừng có bảo em mách. Các chị chồm lên: Cứ chặn trước thế, nhớ là có gì chị em tự giải quyết nghe chưa. Không được mách. N
ói rồi, mấy chị hả hê ngoay ngoảy bước đi.

H
à nhìn theo, thở đánh thượt: Đúng là sư tử công sở. Ai cũng thế này, e khó thở lắm!                                                                            
Quỳnh Linh

Thông báo! Quan tâm!

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

- Con bé chết thương tâm quá đi! - Chị Hạnh chống đôi đũa vào bát bún chả, ngừng nhai.


- Chị nói ai thế? - Liên lùa nốt miếng rau sống vào miệng, nhồm nhoàm hỏi.


- Con gái chị Lương, nhân viên cũ của cơ quan mình đó. Mày chưa biết à?


- Chưa. Đến cơ quan là rủ bà chị đi ăn sáng luôn, có kịp nghe gì đâu.


- Trời ơi, nó vừa đi xe máy vừa nghe điện thoại, mất tay lái đập đầu xuống đường.Vậy là lòi óc, máu bắn be bét. Chết!


- Chị nói nghe kinh quá.


- Kinh gì, sự thật nó còn kinh hơn ấy chứ. - Hạnh nói tỉnh queo.


- Thế chị đã thông báo cho mọi người biết để đi viếng chưa?


- Thông rồi. Mà khổ, tai ương mới rõ mặt nhau nhá. Mày biết không, tao thông báo mà được mày chăm chú nghe, tỏ lòng thương xót vậy là tao mát lòng lắm.


- Chị cứ nói vậy.


- Thật chứ không? Mày nghe đây, lúc mới đến, tao gặp ngay ông Tụ ở cổng cơ quan, tao nhanh mồm báo tin, vậy là ông ấy trả lời:
Ừ tôi biết, nhưng sớm đầu ngày, chưa vào cơ quan, bà đã oang oang chuyện chết chóc, tôi ởn quá. Còn bà Hương, tao không ngờ mày à, nghe tin của tao, bà ấy gật gật rồi thở dài: Tôi cũng vừa đi hút bướu cổ về.

Thế có phí công tao? Ý là, tôi đây cũng có chuyện, cần thăm nom chia sẻ, chứ chẳng cứ ai, mày nhỉ?

- Vâng.

- Ấy thế nhưng mà không thông báo thì sau lại trách đấy. Rằng a, sao không báo để đến viếng, rằng a, bao nhiêu năm công tác cùng nhau, chị em biết có chuyện buồn mà không cảm thông chia sẻ. Mồm miệng, hỏi mày, ai quản nổi? Thói đời đó. Mày nghe mà rút kinh nghiệm. - Giọng chị Hạnh ngày một hào hứng.

- Vâng.Thế nhưng chị Lương ấy bây giờ chuyển đi đâu ấy chị nhỉ? Truy điệu ở đâu? Tí chị em mình đi.

- Chuyển á,
ờ, tao, tao cũng chẳng biết rõ. Còn chỗ truy điệu, để tí xem sao. Cũng mới nghe được tin thế, tao, tao chưa hỏi lại, chỉ biết óc bắn ra kinh lắm. Thôi, ăn đi!

Chị Hạnh xỉa đôi đũa của mình vào bát bún của Liên, ngoắng loạn lên.
                                  
                                        

Quỳnh Linh

Ngại cành cong

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Bến xe, một buổi đợi.

Người đàn bà rất khó đoán tuổi đi đến trước mặt tôi:

- Cháu à, mấy giờ rồi nhỉ?


Mắt vẫn ngóng xe tôi nói nhanh, vì đã quá quen giờ sau mỗi buổi tan học: 12 giờ bà ạ.


- 12 giờ? - Người đàn bà lẩm bẩm, và chợt nói nhằn từng chữ: 12 - giờ - thế - mà - bà - vẫn - chưa - được - ăn - gì - đấy.


Tôi quay qua nhìn.


- Cháu có đồng nào cho bà không, bà khổ lắm.


- Nó là học sinh, lấy đâu tiền, phải đi học bằng vé buýt tháng, xin gì nó? - Ai đấy nói sau lưng tôi.


Tôi định nói theo, cháu là sinh viên, mới tan học, đang đói lắm và cũng chả có nhiều tiền nhưng nhìn đôi mắt đã bắt đầu rơm rớm nước mắt của người đàn bà tôi lại cho tay vào túi quần, cố moi mấy ngìn lẻ mẹ đưa “phòng thân”.


Người đàn bà đi rồi, mọi người xung quanh tôi ồn lên: Sao mày ngu thế, xin gì đâu, lười làm đấy, toàn ra đây lang thang xin vặt. Quần áo cổ cổ nhàu nhàu vậy chứ cái mặt mày không trông vẫn căng phính đấy à?


Hôm sau, không đứng chườm ra mặt đường ngóng xe, tôi cố tình lùi lại một chút trong nhà chờ, để quan sát, và đúng là tôi đã thấy người đàn bà ấy đang diễn lại “vở diễn xin vặt”. Mặt tôi nóng bừng.


Những ngày sau, tôi bắt đầu biết cảnh giác trước người lạ. Bắt đầu có thói quen nhìn ra xung quanh trước khi định đứng ở đâu lâu lâu một chút. (T
ự nghĩ, tốt nhất mình cứ dùng biện pháp tránh là hay nhất, khỏi phải chối từ, khỏi phải nhìn những ánh mắt van lơn. )


Cho đến chiều này, đang vội bước về phía cổng trường, bỗng có một cụ bà tóc búi níu áo tôi: Cháu à, bà nhờ một tí. Tôi giơ tay, vẹo người lạng bước sang bên, nói rất nhanh: Không, cháu không có gì đâu. Và lắc đầu quầy quậy. Cụ bà sững người, tr
n mắt: Tôi làm sao mà cậu né tôi như hủi thế? Nói xong, cụ bà ngoay ngoảy đi ra mép đường. Tôi dấn bước, không quên ngó lại theo phản xạ đánh giá “đối thủ”.


Nhưng…Ý nghĩ tự cho rằng mình đã tỉnh táo, tránh được một vụ lừa, không mất mấy tiền nhưng khá tổn thương về tình người như hôm nào, khắc đã được thay bằng câu hỏi: Cụ ấy muốn nhờ đưa sang đường? Hình như mình đã sai? Mình có quá đáng không nhỉ?


Vì, mãi mà cụ bà tóc búi, gầy gò ấy cứ đứng ở mép đường, tiến lại lùi, thò chân xuống rồi lại rụt lên rất nhanh. Trước mặt, vẫn miên man là dòng người, xe, khói…
                                                                             

Quỳnh Linh


 

  

Tin văn hóa văn nghệ quốc tế 11-2007

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Cuộc thi Nhiếp ảnh kỹ thuật số Quốc tế Circuit Italia

 

Cuộc thi gồm có cúp Arno lần thứ 25, cúp Figline Valdarno lần thứ 16, cúp Coliine del Pratomagno lần thứ 5 và cup Colline del Chianti lần thứ 5. Anh kỹ thuật số hoặc số hóa đều có thể tham dự, ở ba dạng: ảnh tự nhiên, ảnh tự do và ảnh bộ. Các tác giả có thể tham dự bằng cách gửi file JPG. Ban giám khảo sẽ chấm bằng máy chiếu và phóng những ảnh đoạt giải để trưng bày trong lễ trao giải (dự kiến tổ chức vào đầu tháng 12/2007)

 

Hòa nhạc nhân ngày AIDS thế giới

 

Một buổi hòa nhạc lớn sẽ được tổ chức tại sân vận động Ellis park (Johannesburg, Nam Phi) vào ngày 1 tháng 12 tới. Tham gia buổi hòa nhạc này có khoảng 30 nghệ sĩ danh tiếng, đến từ các quốc gia khác nhau trên thế giới. Đây là hoạt động nhằm nâng cao nhận thức của mọi người về mối nguy hiểm của căn bệnh AIDS.

 

Nữ diễn viên làm đại sứ quan hệ cộng đồng của Hàn Quốc

 

Nữ diễn viên Chung Ryeo Uon được Bộ Ngoại giao Hàn Quốc chọn làm đại sứ quan hệ cộng đồng của quốc gia này. Trước đây, Chung Ryeo Uon từng tham gia ban nhạc Chakra, rồi đi du học tại Australia. Khi trở về nước, cô đã tham gia một số phim truyền hình như: Em đến từ hành tinh nào, Tên tôi là Kim Sam Soon, …Chung Ryeo Uon bắt đầu công việc PR mới này kể từ tháng 10 năm nay.

 

Tác phẩm “Hình hài dấu yêu” của Alice Sebot

 

Tác phẩm “Hình hài dấu yêu” của Alice Sebot đã được đạo diễn nổi tiếng Peter Jackson (qua các phim Chúa tể những chiếc nhẫn, King Kong…) quyết định mua bản quyền, chuyển thể và đầu tư dựng thành phim. “Hình hài dấu yêu” kể về những chấn động, biến chuyển trong một gia đình, sau cái chết của cô bé 14 tuổi Susie Salmon với những điều phân tích, lý giải và tưởng tượng. Tác phẩm này từng đoạt giải thưởng dành cho tiểu thuyết đầu tay năm 2002.

 

Vở Les Miserables

 

Vở Les Miserables sắp được ra mắt khán giả Trung Quốc, tại sân khấu của Nhà hát Quốc gia, từ một dự án hợp tác sân khấu giữa tập đoàn nghệ thuật và giải trí Trung Quốc với sân khấu Broad way. Cũng theo dự án này, một số tác phẩm sân khấu đương đại đang được đánh giá cao như Phantomi of opera, My fair lady, The lion king… sẽ đến với khán giả Trung Quốc bằng bản tiếng Hoa.

 

Tìm thấy tác phẩm của họa sĩ  Leonardo da Vinci

 

Một tác phẩm của họa sĩ  Leonardo da Vinci (Ý)bị mất từ tháng 8 năm 2003 đ được cảnh sát Anh tìm thấy. Tác phẩm này trưng bày khoảng 200 năm nay tại lâu đài Drumlanrig của công tước Buccleuch ( ở Tây Nam Scotland), được cho là có trị giá trên 31 triệu USD và từng thu hút rất nhiều khách thăm quan. Tác phẩm đó có tên: Madonna with the Yarnwinde.

 

 

 

Văn nghệ quân đội số đầu tháng 11-2007

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in góp ý (3)   
 
 

Tạp chí Văn nghệ Quân đội số 680 (đầu tháng 11) được bắt đầu bằng cuộc đối thoại giữa PV VNQĐ với đại tá Đỗ Gia Nam – Giám đốc Thư viện Quân đội nhân dịp đơn vị này kỉ niệm 60 năm thành lập, cũng là một đề tài đang được quan tâm, sách và văn hóa đọc.


Đặc trưng nổi bật của VNQĐ số này là có nhiều bài vở về văn học, văn hóa, đất nước, con người Nga nhân kỉ niệm 70 năm Cách mạng tháng Mười: Bút kí của Doãn Dũng: Ngày ấy ở Tula; Trích dịch 10 ngày rung chuyển thế giới của John Reed, Nền văn minh Xô viết của ... Phần Truyện ngắn tác giả tự chọn số này là sự xuất hiện của nhà văn gạo cội Khuất Quang Thụy với một truyện ngắn ấm áp: Người ở bến Phù Vân...VNQĐ số 680 sẽ ra mắt bạn đọc vào ngày 5.11.2007


Văn

Đỗ Bích Thuý:

Bất luận thời gian, sách luôn là sản phẩm tinh thần quý giá

Trần Thuỳ Mai:

Nơi có những cây tùng xanh biếc


Anh Đào:

Chút nắng hoàng hôn


Y Ban:

Danh dự


Doãn Dũng:

Ngày ấy ở Tula


Ngô Tự Lập:

Trường hợp của “Lu Lu”.


Khuất Quang Thụy:

Người ở bến Phù Vân


Nguyễn Xuân Bệ:

Nhớ nhớ quên quên


Phạm Xuân Trường:

Bánh đa cua của mẹ

Thơ


Nguyễn Huy Hoàng:

Mặt trời vẫn mọc


Nguyễn Duy:

Trước tượng đài Kiép


Trần Ninh Hồ:

Cho em mùa thu xa


Hoàng Cát:

Nén tâm hương trên chiến địa năm xưa; Gửi một người


Nguyễn Quyết Thắng:

Ảo ảnh; Thảo nguyên.


Nguyễn Hoa:

Dự cảm


Phan Văn Chương:

Sông đi; Áo ru


Lê Vĩnh Tài:

Rồi sớm mai im lặng sương mù...


Chu Thị Thơm:

Qua cõi rong rêu; Vũ điệu đêm; Không đề

Văn học nước ngoài

John Reed và mười ngày rung chuyển thế giới – T.Q. Long dịch

Bình luận Văn nghệ


Lê Duy Bắc:

Hiền, dữ phải đâu là...


Sergei Kara –Muza
(Nga):

Nền văn minh Xô viết – Lê Sơn dịch


Đăng Bảy:

Người trinh sát những cuộc đời tướng soái


Tạ Xuyên:

Sân khấu Nga – Xô viết với mảng đề tài...


Nguyễn Đình Thi:

Hà Nội hồng...

Truyện vui


Azit Nêxin
(Thổ Nhĩ Kỳ):

Nhiệm vụ đặc biệt – T.H dịch

Con trai thêm một tuổi 10-2007

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in góp ý (1)   
sinh nhật

Ngộ nghĩnh trẻ thơ (từ internet)

* Bố đang hứng thú dạy con trai tập bơi thì cậu quý tử đề nghị:
- Bố ơi, chúng ta có thể nghỉ được chưa ạ?

- Sao vậy? Lúc nãy, chính con hăng hái đòi bố cho tập cơ mà?

- Vâng, nhưng bây giờ con căng bụng rồi, không còn khát nữa ạ.

*Cô giáo lớp 1 dạy học sinh:
- Chúng ta cần phải phát động phong trào làm việc tốt. Từ mai trở đi, khi đến lớp mỗi em phải kể cho cô nghe một việc tốt nhé!
- Thưa cô vâng ạ!
Ngày hôm sau:
- Em nào có việc tốt kể cho cô nghe.
- Dạ thưa cô - một em đứng lên - Hôm nay em dẫn một bà già qua đường ạ!
- Tốt, tất cả lớp phát huy học tập theo bạn nhé!
Ngày hôm sau:
- Nào, thế hôm nay những ai đã làm việc tốt?
- Dạ thưa cô, hôm nay chúng em học tập bạn hôm qua và đều đã làm việc tốt ạ! - cả lớp đứng lên đồng thanh nói.
- Vậy là rất tốt. Các em đã làm những việc gì nào?
- Chúng em cùng dẫn một bà già qua đường ạ.
- Tốt lắm! Nhưng tại sao có một bà già mà cả lớp cùng dẫn qua đường hả?
- Dạ thưa cô, vì bà ấy... không thích qua đường ạ.

* Hai mẹ con đang đi dạo trên phố. Chợt đứa bé mới 5 tuổi hỏi:
-Mẹ ơi, sao bác kia lại đứng úp mặt vào tường hả mẹ?.

- Ừ, bác ấy... bác ấy...

- A, con biết rồi! Bác ấy bị cô phạt phải không ạ?
Một lúc sau...
- Mẹ ơi, sao chỗ bác ấy đứng có một vũng nước hả mẹ?
- Ừ thì... thì...
- Con biết rồi, bác ấy sợ quá nên tè hết cả ra quần mẹ ạ!


*Một học sinh nghỉ học không có lý do.

Tại sao hôm qua em không đi học, - Cô giáo hỏi.

- Thưa cô... vì em bị ốm ạ.

- Chậm nhất là ngày mai em phải đưa cô giấy của bố hoặc mẹ em.

- Vâng, thưa cô.

Hôm sau, học sinh đưa cô giáo tờ giấy có những dòng chữ sau đây: "Thưa cô giáo, con tôi nghỉ học hôm qua vì nó bị ốm. Chào cô. Bố em".


* Biết con trai kém môn toán, ông bố quyết định phụ đạo cho con. Ông bố hỏi con:

- Ngôi nhà của chúng ta có 5 tầng. Mỗi tầng có 12 bậc thang. Vậy con hãy nói cho bố biết phải leo bao nhiêu bậc thang để lên tới tầng 5 của chúng ta?

Đứa con trai ngước nhìn lên cao rồi trả lời một cách đầy tự tin:

- Phải leo tất cả các bậc ạ!

sinh nhat



Văn nghệ quân đội số đầu tháng 10-2007

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Văn nghệ Quân đội số này khá phong phú về mặt nội dung, sẽ ra mắt bạn đọc vào ngày 5.10.

Phần Văn xuôi với sự xuất hiện của các tác giả Đỗ Doãn Quát với "Bến lú", Trâm Oanh với "Những tiếng thì thầm trong đêm", Đinh Ngọc Hùng với "Làng cửa sông", mỗi truyện mang một sắc thái riêng, những khoảnh khắc éo le, vui buồn trong cuộc sống.

Mục Truyện ngắn tác giả tự chọn kì này là sự xuất hiện của nhà văn Bảo Ninh với truyện ngắn "Ba lẻ một".

Phần thơ kì này được trình bày với mỗi tác giả có một chùm 2-3 bài, bạn đọc sẽ dễ dàng có được sự nhận diện về tác giả, mặc dù họ là gương mặt gạo cội hay mới mẻ.

Phần Bình luận Văn nghệ khá phong phú, có những bài mang tính học thuật, cũng có bài mang tính thời sự văn chương.


Văn xuôi

P.V:
Bình yên một vùng Đông Bắc
Sương Nguyệt Minh:
Miền gốm cổ Gò Sành
Trâm Oanh:
Những tiếng thì thầm trong đêm
Đinh Ngọc Hùng:
Làng cửa sông
Phong Sương:
Người con thôn Khuổi Dủm
Đỗ Doãn Quát:
Bến lú
Nguyễn Mỹ Nữ:
Quán trọ của dân chơi
Phạm Trung Kiên:
Mùa ổi
Bảo Ninh:
Ba lẻ một

Thơ

Đặng Hải Yến:
Hà Nội ban mai; Mặt trời đỏ mặt trời vàng; Lằng lặng những thanh âm
Thanh Thảo:
Thuận; Đồng tháp mười; Đất qua tôi
Võ Sa Hà:
Lũng Cú; Kỷ niệm
Trương Thị Kim Dung:
Vẫn; Ru; Hóa kết
Nguyễn Quang Thiều:
Những con cá vàng; Thay lời nguyện cầu; Thư của một nhà thơ Việt thế kỷ 21 gửi những nhà thơ đời Đường
Hương Đình:
Bão; Về
Nguyễn Chí Hoan:
Lữ khách; Lắng nghe
Chu Hồng Tiến:
Cha đi; Trưa kỵ mã; Chiếc bình
Mai Nam Thắng:
Rau tập tàng; Có thể Vị Xuyên; Hoa dong riềng

Văn học nước ngoài

Juan Rulf (Mêhicô)
Nghèo là cái tội – Nguyễn Thị Thu dịch

Bình luận Văn nghệ

Mai Thế Oanh:
Sự nghiệp làm nên bởi chữ đồng
Nguyễn Hoài Nam:
Trò chuyện về văn học 8X
Lê Bá Thự:
“Gã nhà quê” Trịnh Thanh Sơn
Tâm Huyền:
Những nhà phê bình đành tự phê bình
Nguyễn Thị Minh Thái:
Còn sống còn đau còn hạnh phúc
Lê Cường:
Chương trình “Chúng tôi là chiến sĩ”
Đoàn Thị Lợi:
Còn mãi hình bóng một họa sĩ tài năng…

Cuồn cuộn... không yêu

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
khong yeu                                                                                                                           
* Truyện ngắn Quỳnh Linh

- Anh đừng sờ em thế!
 

- Vẫn thế cơ mà, không thích à?
 

- Nhưng ở sân chùa thế này thì không thể.
 

- Rách việc thế. Nhìn kìa, chùa cũng là nơi cho các đôi đến lượn đấy chứ. Nếu dị ứng tình yêu thì họ đến làm gì? Mà... khi khác nói được không? Anh cứ, nào... Nhơn vừa nói vừa vít đầu Sao hôn chụt một cái - Càng chứng tỏ là chúng ta thắm thiết. Phật có phù hộ độ trì thì càng có lý do. 
 

- Bỏ em ra ... - Sao toài người.
 

- Thơm đã, ai mà chịu nổi. - Nhơn cố kéo.
 

- Xin lỗi, nhà chùa là nơi thanh tịch, diệt dục, các cháu giữ ý chút đi -  Một người đàn bà choàng chiếc áo nâu vỗ vai Sao nói nhỏ nhưng gay gắt. Nhơn nhăn mặt: Vớ vẩn, đến với Phật thì cũng phải yêu. Đến rồi để không còn là người nữa thì đến làm gì. Người đàn bà áo nâu trợn mắt bỏ đi - Mô phật, mô phật ...
 

- Anh thật là…
 

- Em nhìn xem, ngữ ấy không chồng chết, muộn chồng cũng bị người đàn bà khác chen vào cuộc sống gia đình thì mới u mê nhường kia.
 

- U mê? Anh bảo những người đi chùa là u mê?
 

- Thì ... 
 

- Em cũng... Anh đi đi! 
 

Nhơn nhìn một lúc không thấy Sao thay đổi nét mặt liền quay gót.
 

Sao bụng buồn lẩn vào khúi hương. 

*
 

Một ngày qua, Nhơn gọi điện.
 

- Anh không có ý chê em, nhưng nhắc em đừng để cái đâu đâu làm ảnh hưởng đến cuộc đời mình. 
 

- Nhưng ảnh hưởng chỗ nào? Em là sinh viên giỏi. Anh cũng vậy. Em chả hiểu, trong học tập anh có đánh giá sâu sắc và toàn diện thế mà ở cuộc đời cái nhìn của anh đầy thiện cẩn? 
 

- Chỗ nào? 
 

- Rồi từ từ em chỉ.
 

- Anh không từ từ được. Với lại, nói cho em nghe nhá, cứ nhìn em chắp tay, lẩm bẩm khấn là thấy em già lắm. Thôi bỏ đi!
 

- Bỏ cái gì nào? Bỏ anh hay bỏ Phật? 
 

- Ai lại đem so sánh anh với Phật. Anh làm sao so với Phật. Mà Phật đối với em sao quan trọng bằng anh?
 

- Em chẳng biết nữa. - Sao trả lời lửng lơ. Nhơn đã đi thật.
 

Tan buổi, chẳng có người nào ngóng, Sao khóc không có người lau nước mắt. Phật bà nghìn tay nghìn mắt thế kia vẫn chả biết Sao buồn. Tay Người sạch thế, trên cao thế, có rẽ xuống quệt ngang mặt Sao không?
 

Bởi vì Sao không đáng được như thế?
 

*
 

Sao đi chùa chứ không phải đi lễ. Vì Sao nghĩ Sao chẳng thể cầu được cái gì tự dưng đến với mình.
 

Không tay xách nách mang, không trợn mắt lên nhìn bức tượng Phật mà tuôn hàng tràng ước vọng, từ đầu năm chí giữa, từ nửa chí cuối như nhiều người vẫn làm. Sao nhắm mắt, thả lỏng người, thưởng thức mùi hương dẫn lối vô thường. Nhưng Sao không đến được cõi vô thường. Nếu Sao quên những hơi thở đều nhẹ đến mấy và mất hết sự thăng bằng, Sao  sẽ rơi bịch xuống nền chùa như thợ xây ném những bịch cát bẩn vừa vét trong những tầng nhà vừa xây. 

Vậy là không dám hết mình. Sao cũng không nhận được trọn vẹn.
 
*

Công việc nhà báo đưa Sao đi nhiều nơi. Đến vùng đất mới nào Sao cũng tìm xem ở đó có bao nhiêu chùa và cố gắng đi bằng hết. Sao không lễ lạt, không phải đợi tàn hương xin lộc, nên Sao đi được nhiều chùa.


Xếp bảo, giá mà báo ta có một trang Phật thì tôi giao ngay cho cô. Có nghĩa là Xếp, một người “yêu già khinh trẻ”, cũng nhận ra cô có một sở trường riêng ấy. Lũ phóng viên lau nhau tập sự nhìn Sao vừa ngưỡng mộ vừa hài hước. 
 

- Không đủ để tạo một bữa bún đâu. Đi đi - Sao cười đáp lại những ánh mắt của chúng. - Thế cũng có nghĩa là Xếp nhắc mình đừng có mê tín dị đoan đó.
 

- Chị cũng thừa biết không phải tất cả những người đi chùa là mê tín còn gì. 
 

- Có thể. Mà chả biết thế nào. Đến chị nhiều lúc cũng chả biết sao mình thích đi chùa đến thế.
 

Và Sao vẫn trôi trong tiếng chuông.
 

*
 

Không, chính xác ra thì từ ngày Nhơn bỏ Sao, Sao càng năng đến chùa. Sao băn khoăn, có đúng là dù trước tín ngưỡng, trước thánh thần, tình yêu có thể vượt qua? Giữa sân chùa có ngày Nhơn bảo: Đừng đòi hỏi điều gi chính xác tuyệt đối. Ngày Nhơn đi, Sao nhắc lại câu nói và hỏi như tinh yêu của chúng mình phải không? Nhơn im lặng.  

- Thế có nghĩa là anh đã nhầm khi nói lời yêu em? 
 

- Không. Nhơn nói dứt khoát. - Điều đó không bao giờ nhầm ngay cả khi anh đã bỏ đi. 
 

- Vậy thì đừng đi! 
 

- Anh đi và vẫn linh cảm là mình quyết định vội vàng. Nhưng em à, anh có thể quay lại khi em cũng đã biết trở về với đời thường, dù đi giũa đời thường.
 

Thì em vẫn ở cuộc đời đấy thôi. Có điều cuộc đời nhiều cung bậc. Sao lên và xuống chứ chẳng trụ lại ở đâu lâu. Ngay cả trong lòng Nhơn, nơi Sao đã thấy yên ổn, xúc cảm và khát khao nhất. Vậy rồi đầu tiên là những tiếng đồng hồ điểm và sau là chính Nhơn đã để Sao bước ra từ đó đầy chụng chờnh. Sao tìm Nhơn trong những bước dạo sân chùa.
 

*
 

Giữa biến chuyển cuộc đời cùng nỗi lòng đầy vơi, Phật nhìn xuống những thân phận người bằng gương mặt bình thản. Im lặng. Sự im lặng dồn nén bung vỡ bao tâm sự người, bao khát khao nguời, bao ý đồ đen tối cá nhân cũng rất nguời. Ngồi giữa sân chùa Sao ngắm dòng người hối hả chen vào thắp hương khấn vái đến nhễ nhãi mồ hôi, mặt đầy thành tâm để khi ra lại phẩy tay phuồi phuội, thấy bụi hương bám sao mà khó chịu? Họ phẩy tay hay muốn trút hết lòng dạ, đến cả chút tàn hương nơi sân chùa? Sao cũng không biết nữa.
 
Nhưng kìa, ai như Nhơn. ánh mắt Sao chuyển từ đôi bàn tay lên khuôn mặt hồng, vì huơng, vì nhiệt người, vì hạnh phúc. Bên cạnh, anh đang có một nguời con gái khác, trẻ trung, có lẽ không xinh bằng Sao (Sao tự an ủi vậy) nhưng tràn trề hạnh phúc. Cả hai lướt qua Sao.
 

- Đó thành tâm là thế, huớng thiện là thế, em nhé. - Nhơn nói nhiệt thành, mặt hắt sáng. Cô bé gật đầu, mắt long lanh. Sao nghiêng chiếc mũ che nửa khuôn mặt lặng lẽ nghe. - Anh thích đến chùa lắm, cứ rảnh rỗi là ta cùng đi chùa nghe! 
 

- Vâng. 
 

Tiếng vâng mới nhẹ và ngọt làm sao.
 

- Có biết lúc nãy khi em thắp nhang anh khấn gì không?
 

- Sao? 
 

- Khấn được ngủ với người bên cạnh, qua tàn 100 bó nhang! 
 

- Phải hay trái! 
 

- Em cứ giả vờ, anh nói thật này. Cách đây nhiều năm anh đã đánh mất một thứ ở đây, giờ quay lại tìm.  

- Con cá mất là con cá to nhất, có thấy không? - Cô gái nhấm môi.
 

-  Thấy em, em có chấp nhận không?
 

Cô gái giơ tay vả bốp vào mặt Nhơn rồi ôm bụng cười như nắc nẻ. Nhiều người đổ dồn những ánh mắt khó chịu loé như đầu huơng 
 
- Sự thật thà đến thô thiển! - Cô bé ngoi lên dòng ánh mắt vừa cười vừa nói.  

- Anh thô thiển hay em thô thiển. Sao em lại làm thế ở sân chùa? 
 

- Thế là yêu, anh biết vậy mà. Bỏ qua đi. Em yêu anh. Yêu cái sự tối sáng trong anh. Cô bé vít tai Nhơn xuống, cắn.
 

Thực sự Nhơn là thế nào? Sao hất mũ để ánh nắng vun tràn khuôn mặt, dấn bước. Vì tán cô bé đó mà phải cố hay trước đây khi chia tay, không phải Nhơn không thích đi chùa mà không thực sự còn yêu Sao? Sao tự hỏi và tự dưng Sao thấy lòng thanh thản lặng. 
 

Hôm nay, Sao mới biết mình tại sao năng đến chùa.
 

Cuối mùa lễ, với sự đồng ý của Xếp, trang báo “hướng thiện” của Sao được chính thức ra mắt. 
 

Cuốn vào hiện thực, Sao tìm thấy sự an bình giữa dòng đời cuồn cuộn không Nhơn. 

Tác giả:
Hiện ở Hà Nội,
Biên tập viên Tạp chí Văn nghệ Quân đội. Tác phẩm đã xuất bản:Tâm đêm (tiểu thuyết) NXB Trẻ 2001.Giấc mơ son phấn (tập truyện ngắn) NXB Lao động 2004.
Gió thổi ngoài hiên ( tập truyện ngắn) NXB Lao động 2006.

Nguồn:
http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacgia.asp?TGID=1430&LOAIID=2&LOAIREF=1 và http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/vanhoc_tacpham.asp?TPID=6938&LOAIID=2&LOAIREF=1&TGID=1430

Đám không người

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
Nhân vật chính: Ông  Hựu , Bà Bân ,Chị Tảo , Anh An , Em Miên

Cảnh 1:

Một buổi chiều muộn. Nắng quái xiên rực góc thềm. Bà Bân ngồi dãi thẻ đếm những đồng tiền lẻ rồi rút tấm khăn tang từ trong túi áo thâm ra vuốt vuốt. Nước mắt chợt ứa tràn mí mắt. Bỗng có tiếng chó sủa. Bà Bân vừa nhổm người vừa lau vội mặt, vô tình để ngón tay cái đầy vết xước măng-rô cứa vào đuôi mắt đau, xót.

 
Bà Bân: Ai đó? Cửa tôi có đóng đâu? 

Ông Hựu
: Nhưng mà không mời thì ai dám đẩy cửa vào nhà bà? 

Bà Bân
: Gớm, bác cứ câu nệ đâu đâu. Cán bộ lão thành đây ai mà chả nhớ. 

Ông H
ựu: (cười hà hã) Đúng là cái bà xã viên nhớ dai. Tôi nghỉ hưu cả mấy chục năm rồi. Cán bộ thớ chi. Có ai coi ra gì đâu. 

Bà Bân
: Không mà người ta bầu bác làm trưởng thôn? Bác thật dữ cái miệng. Cả làng biết tiếng bác. Ai dám bảo thế nào. Bác vào nhà uống miếng nước cho ấm bụng. 

Ông Hựu
: Thôi, ngồi ở thềm cho nó mát. Bà vào pha trà rồi ra nói chuyện. Bà Bân: (vừa te tái đi pha trà, vừa nói vọng ra) Dưng mà em nghĩ chắc chả phải bác sang đây để uống nước xuông. 

Ông Hựu
: Bà thừa biết không dưng ai lại sang kiếm miếng nước ở nhà bà góa…Ấy chết, tôi nhỡ mồm. Xin lỗi, xin lỗi nhá 

Bà Bân
: (dài giọng) Bác có nói sai đâu mà phải xin lỗi? 

Ông Hựu
: Thôi thế này, tôi nói thẳng. Sáng ngày kia, làng ta tổ chức một đoàn đi lên tỉnh đấy. Nhà mình ít người, thôi thì như những nhà vắng yếu khác, bà cứ đóng cho ít tiền làm lộ phí. 

Bà Bân
: Lên tỉnh làm gì hả bác? 

Ông Hựu
: Kiện! 

Bà Bân
: Ấy chết! 

Ông Hựu
: Chết? Chết là chết thế nào? Không đi kiện mới là chết! 

Bà Bân
: Sao thế ? Mà đóng bao nhiêu? 

Ông Hựu
: Khoan nói chuyện tiền. Nói cho bà hiểu đã. Phong thủy bao năm đã khẳng định: Cái gò thiêng đầu làng làm nhiệm vụ chấn hưng làng ta. Các long mạch ngầm, các hướng thiên phong dù có độc mấy qua đến đấy, chạm phải đấy đều chệch sang hướng khác. Có phải bỗng dưng mà dân cả làng đến đó để thắp nhang đâu. 

Bà Bân
: Em tưởng người ta chôn ở đó thì đến mà khấn chứ …Hôm nay, em vừa đi đám ma chồng bà Phận ngõ Lò Gạch, vẫn chôn ở đó mà? 

Ông H
ựu: Đúng là đàn bà, cạn nghĩ. Chôn thì đào lên chứ bà tưởng à. Bà muốn xem bản đồ quy hoạch thì sang nhà tôi cho xem. Có cả các góc các diện, với không gian ba chiều trên máy tính xách tay chứ bà tưởng à. Thằng Miên nhà tôi học đại học ở thủ đô ấy nó…(ngập ngừng) Mà thôi, bà chả cần biết kỹ làm gì cho mệt. Tôi nói bà biết nhá, tỉnh họ quyết san phăng teo cái gò đó đi đấy. Bà liệu mà lo lấy chỗ di chuyển mồ mả ông nhà bà.  

Bà Bân
: Thế ạ? 

Ông Hựu
: Giờ này mà còn thế ạ. Cả làng người ta đang sôi lên kia kìa. Các bà quan tâm đến cái gì không biết. 100 nghìn! Đóng khẩn trương cho tôi. 

Bà Bân
: Thì bác cứ uống nước đi. Mà em hỏi…Thế không đóng có được không? 

Ông Hựu
: (chợt nói vóng lên) Tùy bà. Nhưng tôi nói trước là cả cái làng này sẽ cạch mặt bà ra đấy. Rồi chết chả có ma nào nó đến. Chả ai đào huyệt. Chả ai khiêng đâu. Đừng tưởng con bà trên thành phố thì chết không về cái làng này. 

Bà Bân
:  (vơ vội cái nón úp lên cái khăn tang) Bác nói lạnh cả người. Em làm sao mà phải chết ngay. Thôi thế này, để em đi vay. Em sẽ sang tận nhà bác đóng. Đúng là em chỉ quan tâm tới củ sắn củ khoai thôi… 

Ông Hựu lòng khòng đi ra. Chị Bân te tái chạy vào, vừa đi vừa đánh tiếng.
 

Chị Tảo
: Cháu sang vay ít tiền đây. (đon đả)  

Bà Bân
: (giật mình ngẩng lên) Cô làm tôi hết cả hồn. 

Chị Tảo
: Bác cũng lo tiền hả? Làng mình đâu cũng nhộn sục lên vì tiền.  

Bà Bân
: 100 nghìn chứ phải ít đâu. Nhưng nghĩ, từ chối mà để chết không có người khiêng cũng cứ cấn cá lắm. Ông Hựu vừa sang tôi. Ôi, đi vận động quyên góp chống đối chính quyền mà cứ oang oang, chả thấy thì thầm thì thụt gì cả. Thời mới có khác.  

Chị Tảo
: Bá chả biết rồi. Ông ấy tập hợp được gần hết các cụ cao tuổi với thanh niên trong thôn đấy. Lại còn Chánh văn phòng tỉnh gửi mail về. Thư điện tử ấy và cả đối thoại qua mạng nữa. Khiếp lắm. Mọi cũng đang hỏi xem thế nào. Chúng cháu ít tuổi, cứ các bá sao thì chúng con theo vậy. 

Bà Bân
: Ơ, cái con này, mày làm y tế, có chân trong ủy ban xã tao mới sang hỏi. Mày còn nói thế thì tao biết làm sao? 

Chị Tảo
: Con có chân nhưng có quyết được đâu? Vả lại, làm cán bộ gì thì cũng vẫn là người làng, vẫn phải theo lệ làng. Có sống được một mình đâu bá. 

Bà Bân
: Thế mày bảo tao nộp tiền hả? 

Chị Tảo
: Nỗi sợ cứ ở đẩu ở đâu không bằng lo mình bị xa lánh, bị tách khỏi cộng đồng. Người làng đang nói, coi như chó nó sơi mất mấy chục yến khoai vậy bác ạ.  

Bà Bân:
Hả? Dào ôi… 

Chị Tảo
: Hội đi kiện, cái hội gọi là “bảo vệ công dân” ấy nói rằng: Ai dư người thì khăn gói đi kiện, còn không thì đóng tiền, 100 nghìn, quy ra thóc cũng được. Họ còn chuẩn bị cả chăn màn lương thực, bàn nhang nhất quyết ngủ hè, thắp hương biểu tình đấy bá ạ.  

Bà Bân
: Khốn nhỉ. Bảo thế là nhiều thì cũng là nhiều. Bảo ít cũng không ít chứ lị. Mà xã không có ý kiến gì à. 

Chị Tảo
: Hôm họp, rồi loa xã cũng nhắc nhở đấy. Không được kích động, không được làm mất trật tự. Không được… Nhưng luật cho dân được kiện mà. Nghe bảo, đường làm thì hai phần ba dân xã này mất nhà, không thì cũng mất vườn. Với lại, sắp hết nhiệm kỳ, bà chủ tịch xã cũng không muốn làm ầm ĩ. Biết đâu được nhiệm kỳ nữa. Hoặc không, hết quan lại làm dân bá ơi. 

Bà Bân
: Quan nhất thời dân vạn đại. Nhưng kiện thế này, tôi e như cái thời phong kiến ấy. Mồ mả thế biết làm sao? Thôi tôi đi cân thóc đây. 

Chị Tảo
: Ơ kìa, sao bá vội thế, để xem thế nào đã.  

Bà Bân
: Ừ thì thắp cho ông ấy tuần nhang. 

Chị Tảo
: (ngập ngừng): Hay là…bá này, bá cứ từ từ, chưa có quyết định gửi về làng, mới phong thanh tin từ trên tỉnh, làm sao mà đã phải kiện, bụng con nghĩ thế. 

Cảnh 2
 

Vợ chồng chị Bân đứng sau cánh cửa sắt. Cửa bị đổ ximăng cao ngang ngực. Họ vừa đập xành xạch vừa chửi át tiếng nhạc nhảy ầm ĩ đang vọng đến (từ nhà ông Hựu). 
 
 Chị Tảo: (gào) Bá Bân ơi! Giúp cháu với. 

Bà Bân
: (vừa chạy vội vào) Tảo ơi, Tảo ơi! Có chuyện gì thế? 

Chị Tảo
: Ôi may quá, bá giúp con với. Đứa nào nó đểu, nó ghen ăn tức ở hay sao mà nó đổ xi măng vào cửa sắt nhà con rồi. Chết cứng ra đây này. Không sao mở cửa được. 

Bà Bân
: ( vỗ đùi phành phạch.) Trời ơi, cái quân ác man. Sao nó lại thế này cơ chứ. Bá làm sao mà cậy ra đây.  

Chị Tảo:
Bá giúp con gọi thằng thợ sắt. Nhờ nó cưa ra chứ làm thế nào được. Muộn hết cả giờ làm rồi, hôm nay lại có buổi tiêm phòng cho các cháu nữa chứ bá. Cháu không ra, ai lo việc ở trung tâm y tế đây. (chuyển giọng gắt) Thôi đi, mình không đục được đâu, có đến tối, mà mọi người lại cười cho. 

Chồng chị Tảo:
(thả búa, suýt rơi vào chân vợ, vừa thở vừa chửi: Ông mà biết đứa nào ông thiến! Cứ đợi ông ra!  

Bà Bân
: Đồ nghiệt súc, nó định giam chết người ta ở trong này chắc. Đứa nào không biết? Báo công an chưa? 

Chị Tảo
: Nó cắt cả điện thoại rồi. 

Chồng chị Tảo
: (nhặt lại búa, nện lấy nện để, miệng làu nhàu) Thôi bác khẽ khẽ thôi.  (Rồi chửi vống lên)  Cha bố đứa nào chơi đểu nhà ông! (Rồi đi vòng ra) Để tôi đi tìm xem có cái gì đào được.  

Chị Tảo:
Chả biết ai. Nhưng con không dám chắc là có liên quan đến cái hội “bảo vệ công dân” hay không nữa. Tối qua con chả bảo bá là từ từ…Hay họ nghe thấy? Họ cho là con phá đám, bàn ngang. Thôi bá nhanh chân hộ con! 

Bà Bân
: Được. Chờ bá tí nhá. (Chạy ra, rồi lại chạy vào, tay lôi An xềnh xệch) May quá, cậu ấy đang chạy thể dục ngang qua. Anh chị báo cáo đi. Tôi đi gọi thợ. 

Chị Tảo
: Cậu An công an đây rồi. Ối chú ơi, chết đến nơi rồi. 

Anh An
:  Có chuyện gì thế này ? 

Chị Tảo
: Cậu An công an đây rồi. Chúng nó nhốt…muốn giết người… 

Anh An
: Chị nói sao. Ai giết, giết ai?  

Chị Tảo
: Thì nhà tôi đây. Chúng đổ xi măng đúc cửa sắt rồi còn gì. Nhà có cổng, có tầng đâu mà bảo trèo. Làm lấn ra mặt đường, có mỗi cửa thoát thì bị chặn. Ngộ mà trong nhà có cháy, hay lũ đêm thì chạy đi đâu? 

Anh An
: Chị cứ bình tĩnh kể . Không có lũ đâu.   

Chị Tảo :
Chả đang mùa lũ là gì. 

Anh An
: Hôm qua chị có cãi nhau với ai không? 

Chị Tảo :
Không. 

Bà Bân:
Lạ nhỉ? 

Anh An
: Thế gần đây? 

Chị Tảo:
Cũng không. 

Bà Bân
: (vào) Anh có đục được cửa cho người ta không? Phải có xà beng. Ôi mà cũng chả được. Tôi gọi hàng thợ sắt nhưng họ từ chối. Nói hỏng cưa, thợ nghỉ. Chỉ nhận đặt hàng.  

Chị Tảo
: Thế ư. 

Bà Bân:
Mà vừa thoáng thấy tôi là cái con mẹ hàng sắt vội lảng luôn ra nhà sau chứ lị, gọi mấy cũng không thưa. 

Anh An:
Để cháu kêu mọi người tới giúp.  

Bà Bân:
Làng vắng lắm. Họ đi đâu không biết. Mấy cái cửa hàng cũng đóng cửa. Cái tụi hay lê la, chè cháo cũng không thấy đâu. 

Chị Tảo:
Hay là..Họ đi lánh kiện rồi? Hôm qua cháu thấy mấy chị đưa con đi lấy thuốc tiêu chảy chỗ cháu cũng bàn là mai về bên ngoại hoặc lên phố, hay đi chợ xa. Tạm lánh, cho qua cái đận thu tiền đi kiện này đã. Có gì tính sau.  

Anh An:
Tình hình không đơn giản rồi. Cháu mới về nhận nhiệm vụ ở xã này, đã cố gắng nắm bắt tình hình mà vẫn còn sơ sểnh quá. 

Bà Bân:
Xét sau, giúp cái nhà chị Tảo này đã. 

Anh An:
Vâng, tất nhiên rồi. Bác Bân có xà beng không? Kiếm cho cháu mấy cái. (Ra) 

Cảnh 3
 

Mọi người xúm vào xem Miên, con nhà ông Hựu lăn lộn cào cấu, nhề nhãi, nhễ nhại ngay lề đường quốc lộ. Máu của Miên từ cổ chảy xuống đẫm ngực áo. An chạy đến thấy đám đông liền rẽ lách vào, thấy Miên như vậy anh vật lộn ghìm giữ Miên.
 

Anh An
: Mọi người giúp cháu một tay. Không nhanh cậu ta quá đà, tự hại mình chết mất. Ai đó gọi người nhà cậu ta đi.  

Bà Bân
: (vào, tay cầm cái xà beng) Lại sao nữa thế. Sao sáng nay lắm chuyện vậy? (Đặt cái xà beng xuống, ghé nhìn Miên) Ôi. Hãi lắm. Chú là công an, chú có võ, chứ…Nó bị động kinh từ bao giờ thế nhỉ. Máu me thế có lây không? Để tôi gọi xe ôm đưa đi viện nhá. (Chạy ra) 

Ông Hựu
: ( vừa chạy vào vừa la toáng) Con ơi là con. Nó làm sao thế này? 

Anh An:
Bác bình tĩnh. Em nó…Cháu hiểu, không phải đến viện đâu. Qua cơn này đã.  

Ông Hựu
: Sao? Để tôi đưa nó về nhà. Anh thấy nó ở đây lâu chưa? 

Anh An
: Cháu đang đi về lấy cưa sắt thì gặp mà. Vừa thôi. 

Ông Hưu:
Dậy, Miên, về. Chắc say ngã hả. Uống từ hôm qua mà còn say. Có chén nhỏ chén to gì cho cam. Mà mày để cái túi… Nãy giờ có ai thấy cái túi của cháu nó đâu không? 

Anh An:
Bác tìm gì? 

Ông Hựu:
Túi…ư..tiền. Thôi mất rồi. Con ơi là con… 

Anh An
: Tiền gì hả bác? 

Ông Hựu
: (ngập ngừng) Tiền..tiền …tiền quyên góp đi …đi ... 

Anh An
: Kiện? 

Ông Hựu
: Phải. Kiện không cho mở đường. Không để mất nhà, mất vườn. Thế mà… Sáng nó viết giấy lại đây này. Nó bảo nó cần gấp. Bao giờ kiếm lại được nó quay về trả bố. Nhưng cái thân tôi lấy đâu mà trả dân làng đây. Lại còn đi kiện. Không kiện được thì vừa mất nhà, vừa bị dân làng đào mả bố lên ấy chứ. 

Anh An
: Xã đã thông báo, giải thích là chưa có quyết định gì sao các bác vẫn chưa thông.  

Ông Hựu
: Đợi thông báo thì tất cả đã xong rồi. Khổ tôi chưa, tưởng được mở mày mở mặt nhờ nó thế mà… 

Bà Bân:
(Chạy vào): Đợi tí mi có xe, nhà nó còn phải mặc quần áo. Mà nếu là động kinh thì chữa được hay sao đấy. Người ta vừa mách tôi, chỉ cần giữ cho qua cơn là lại tỉnh như không ý mà.            

Anh An
: Bác phải cho em nó đi cai nghiện thôi.  

Ông Hựu
: Hả, nghiện? Nghiện gì? Sao nghiện? Thôi rồi! Bạn nó nói bóng gió tôi không tin còn đuổi chúng đi. Biết làm sao bây giờ. Nó nghiện thật ư 

Bà Bân
: Hẳn nào, lúc nãy tôi nhờ mấy người họ lại bĩu môi, nói; Động kinh gì, khéo bị “ết” rồi. Động vào cho lây à. A. Nó tỉnh rồi. Này, này, ổn chưa cháu? Mày làm sao? 

Em Miên
: Cháu…Cháu định ra đây bắt xe đi Hà Nội. 

Ông Hựu:
Hiểu rôi. Nhưng tiền mày để đâu?  

Em Miên:
Cơn lên…Con cũng không biết nữa, chưa kịp mua… 

Ông Hựu:
(giọng đay nghiến) Cha bố mày con ơi, giết tao đi…Không chỉ mày chết mà cả bố mày cũng thế, nhá. 

Anh An
: Bác bớt giận. Để cháu. Thế này là thế nào? Miên! 

Em Miên
: (Giọng thập thõm) Dạ…Cháu cần tiền quá. Cháu…cháu bán mấy cái xe của bạn với người yêu rồi. Không trả thì không nhng không được học mà cũng chả sống được ấy chứ. Cháu…cần tiền để … 

Ông Hựu
: Hút phải không thằng mất dạy kia? 

Bà Bân
: Kìa ông Hựu. Cháu nó vẫn còn đây mà. 

Ông Hựu
: (giọng cay đắng): Nhưng bà xem người nó có ra người hay là quỷ. 

Em Miên
: Con xin lỗi bố. 

Anh An
: Bác cho em nó nghỉ chút đã. 

Ông Hựu
: Ôi cái giống nghiện, nó dẻo mồm lắm. Sao bao nhiêu năm làm việc, tiếp xúc đủ hạng người mà vẫn bị chính con mình lừa? Mày nói cứ như thật ấy con ạ. Thế còn chuyện đường xá.. là sao? 

Anh An
: Cậu cứ nói thật, tất cả chưa phải đã muộn hết. 

Em Miên
:  Con … 

Ông Hựu
: Thôi rồi con ơi, cũng không phải hả? Ra mày tính lừa tao phỏng? Mày mớm để tao đi dụ cả làng ư? Thế mà không cầm dao giết tao luôn đi. Tại sao? Hả?  

Em Miên
: Con vào mạng internet. Thấy có nhiều trang web kích động thanh niên làm người hùng, chơi khác người, con thử, lại bị bạn rủ rê, (hét lên) con…con không đủ sức từ chối.
 Bà Bân: Thế mà lại có gan lừa bố.. la chúng tao? 

Em Miên
: Bố ơi con biết lỗi rồi. Con chỉ định thuê đồ họa vi tính làm mấy trang bản đồ quy hoạch giả để…kiếm chỗ bố ít tiền. Tính dụ bố bán nhà trước khi bị quy hoạch mất đất. Không ngờ bố cho cả hàng xóm xem. Rồi người ta tin, người ta hỏi. Con thấy có cơ làm ăn à… không, có cơ “mượn” tiền được nên con tính tiếp chuyện lập sổ, quyên góp, xin chữ ký, viết giấy biên nhận, làm cam đoan lo được chuyện xin nắn đường, rồi tổ chức biểu tình.  

Bà Bân:
Mày có biết, mày làm bá với dân làng mất ăn mất ngủ không 

Em Miên:
Nhưng không phải lo nữa. Người gọi điện, giả Chánh văn phòng tỉnh cho mọi người tin, là bạn cháu thôi. Ở quê, hễ có đám ai cũng sợ không người đến dự. Bố tốt tính, nhưng bố cũng xót của, lo cho cái cá nhân. Nếu không lo làm đường mất nhà, mất đất, mất mồ mả, bố cháu và các bác hội người cao tuổi có kêu gọi mọi người cùng “chống đối” cho có sức thuyết phục không? Bố đừng nhiếc con. Đừng ép con phải chết. Anh An ơi giúp em. 

Ông Hựu
: Nỏ mồm chưa cái thứ nghiện. Mày còn đổ tiếng ác cho tao à. Cái thân già này mày cũng không tha. Ôi tôi muốn chết quá giời ơi. Tại tôi, tại tôi tất cả. Không phải tại nó. Chuyện phải đi kiện để không bị “đám không người” là bịa a? Tao mà chết bây giờ là thành đám tang không người viếng đấy. 

Anh An
: Thôi các bác, ta cứ về đã. Chuyện sẽ có chính quyền giải quyết. Bá Bân giúp cháu, đừng để bác ấy xúc động quá. (Ông Hựu quỵ xuống.) Kìa! Bác Hựu!  

Em Miên
:(hét lạc giọng) Đừng chết bố ơi. Không, không … 

Bà Bân:
Sao tay áo nó đầy xi măng thế nhỉ, a…Mày đổ xi măng? Thôi chết, còn cái nhà Chị Tảo, khéo chết trong đấy mất, nhanh nhanh lên, cậu An!  

(Tất cả, người chạy, người bìu, níu nhau ra)
 

Quỳnh Linh
 

http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/nghethuat_tacpham.asp?TPID=6961&LOAIID=9&LOAIREF=4&TGID=1430

Văn nghệ quân đội số cuối tháng ra bộ mới

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   
VĂN NGHỆ QUÂN ĐỘI SỐ CUỐI THÁNG RA BỘ MỚI (10/10/2007 03:26)
VNQĐ - Sau 5 năm xuất bản mỗi tháng 2 kì tạp chí có kết cấu nội dung, hình thức như nhau, chúng tôi đã nhận được nhiều ý kiến của bạn đọc, bạn viết trong và ngoài quân đội gửi về tòa soạn, đề nghị tạp chí cho phát hành lại tờ phụ san VNQĐ, hoặc cải tiến kì thứ 2 hàng tháng để phù hợp với sự phát triển của thời kì mới.

     Sau một thời gian nghiên cứu, BBT đã quyết định chọn giải pháp thứ hai. Và phương án đổi mới kết cấu nội dung, hình thức kì 2 của tạp chí VNQĐ đã được Tổng cục Chính trị và Bộ Thông tin - Truyền thông cho phép.

    Bắt đầu từ  tháng 10 năm 2007, Văn nghệ Quân đội sẽ ra mắt bạn đọc số tạp chí cuối tháng bộ mới đầu tiên với 80 trang in, khổ 20,5cm x 28,5cm, với nhiều cải tiến về mỹ thuật.

    Và mặc dù mới, nhưng định hướng tư tưởng, nội dung, chuẩn mực nghệ thuật của Văn nghệ Quân đội thì vẫn không thay đổi. Ngoài sở trường của VNQĐ như Truyện ngắn, Thơ, Bình luận văn nghệ, bắt đầu từ số này, chúng tôi sẽ mở ra  nhiều chuyên mục mới, sinh động hơn, trẻ trung hơn, thông tin cập nhật hơn. 

    Văn nghệ Quân đội số cuối tháng 10 sẽ được phát hành vào ngày 20/10/2007. Bạn đọc sẽ được gặp ở đây nhà văn gạo cội Nguyễn Minh Châu với truyện ngắn Chiếc thuyền ngoài xa trong mục Truyện ngắn hay thế kỉ 20; Nhà thơ Nguyễn Lương Ngọc với bài Từ nước trong mục Thơ hay sau 1975; Cuộc trao đổi giữa PV VNQĐ với nhà sử học Dương Trung Quốc về đề án quy hoạch "thành phố Sông Hồng" trong mục Tiêu điểm tháng 10; Ý kiến trao đổi về tập thơ Gửi VB của tác giả Hoàng Hưng trong phần Bình luận Văn nghệ... cùng nhiều bài viết, sáng tác  khác.

    BBT VNQĐ rất mong nhận được ý kiến đóng góp từ bạn đọc, bạn viết, những người đã gắn bó với VNQĐ nửa thế kỉ nay để tờ tạp chí của chúng ta ngày càng gần gũi hơn với cuộc sống.

Tin văn hóa quốc tế đầu tháng 10-2007

Trước 0 giờ Trackbacks (0) Bản in Thêm góp ý   

Liên hoan phim
Venice lần thứ 64


Liên hoan phim
Venice lần thứ 64 đã kết thúc với giải sư tử bạc được trao cho Redocted cuả đạo diễn Mỹ Brian De Palma. Giải đặc biệt dành cho La grainet et le mullet của đạo diễn gốc Tunisia: Abdellatif Kechiche. Hai giải diễn viên xuất sắc nhất về tay Brad Pitt , Cate Blanchett. Và giải cao nhất - giải sư tử vàng đã thuộc  về bộ phim Sắc giới của đạo diễn Lý An (Đài Loan). (Sắc giới là một bộ phim hành động về chiến tranh thế giới lần thứ II).


Triển lãm ảnh quốc tế lần thứ 3 Orhan Holding


Triển lãm ảnh quốc tế lần thứ 3 Orhan Holding sẽ được tổ chức tại Thổ Nhĩ Kỳ vào cuối năm nay.  Chủ đề, thể loại ảnh tham dư không giới hạn.  Ngoài triển lãm, ban tổ chức có in sách ảnh và trao các huy chương vàng, bạc, đồng, bằng danh dự của FIAP cùng giải thưởng Orhan Holding. Triển lãm nhận ảnh của các tác giả toàn cầu tham gia triển lãm đến hết 15 tháng 10 năm 2007. (Cỡ ảnh 30x40.)
 


Tiểu thuyết của nhà văn G. G.  Marquez
 


Công chúng yêu thích tiểu thuyết Tình yêu thời thổ tả của nhà văn G. G.  Marquez (
Colombia) đang mong được gặp lại tác phẩm này trên màn ảnh. Theo giới truyền thông, nhà văn G. G.  Marquez đã đồng ý cho điện ảnh Hollywood chuyển thể tác phẩm của mình thành phim. Dự kiến, đạo diễn của phim là Mike Newell, và hai vai chính được giao cho Javie Badem  và Giovana Mezzogiorno. 


Giải MTV Awards 
 


Với ca khúc Umbrella, ca sĩ Rihanna vừa nhận được hai giải MTV Awards : Video hay nhất trong năm và giải đĩa đơn tuyệt vời nhất trong năm. Còn Beautiful liar đã mạng lại cho Beyonce và Shakia giai ca khúc hợp tác tuyệt vời nhất. Ngoài ra, MTV Awards năm nay còn có các giải: nam nghệ sĩ xuất sắc nhất: Jim blerlake, nữ nghệ sĩ xuất sắc nhất: Fergie, Nhóm nhạc xuất sắc nhất: Fall out boy và giải  nghệ sĩ mới xuất sắc nhất: Gym Class Heroes.
 


Nhóm múa Aben Dans
 


Aben Dans là nhóm múa nổi tiếng của Đan Mạch, mang phong cách múa đương đại. Các tác phẩm được nhóm múa Aben Dans thể hiện thường mang tính hài ước, hiện đại, và đa nghĩa. Một trong những tác phẩm gây được nhiều cảm hứng cho người xem của nhóm hiện nay là
Tay và chân và cái gì đó ở giữa. (Khoảng tháng 11 năm nay, nhóm múa này sẽ tới Việt Nam biểu diễn và tham gia hội thảo.) 


Ca sĩ Queen Latifa tiếp tục chọn nhạc jazz… 
 


Sau thành công của The Dana Owens album, ca sĩ Queen Latifa tiếp tục chọn nhạc jazz để thực hiện dự án âm nhạc tiếp theo của mình. Cùng với đó là mong muốn được đóng phim hành động viễn tưởng. Ca sĩ Queen Latifa sinh năm 1970, tên thật là Dana Elaine Owens. Nữ nghệ sĩ da mầu này có duyên với cả âm nhạc và điện ảnh. Cô đã phát hành được 6 album, giành 1 giải Grammy, từng được đề cử giải Oscar, và tham gia một số bộ phim như Set it off, Living single, Chicago,... mới nhất là Hairspray.
 


Phim khoa học viễn tưởng Hàn Quốc: D – war
 


Với câu chuyện về rắn thần thoại Imoogi trước khi biến thành rồng thống trị thiên đường, D - war đang được xem là bộ phim mở ra hy vọng cho dòng phim khoa học viễn tưởng Hàn Quốc. Sau 11 ngày công chiếu đầu tiên, D - war đã thu hút được 5,12 triệu khán giả. Kinh phí thực hiện bộ phim này lên tới 30 triệu USD. Đạo diễn của phim là Shim Hyun - rae. 
 


Nghệ sĩ ghita nhận bằng tiến sĩ thiên văn học
 


Đó là nghệ sĩ ghita Brian May, cựu thành viên ban nhạc The Qeen. Năm 1974, Brian May bỏ dở việc học hành để dành thời gian cho âm nhạc. Sau hơn 30 năm, Brian May mới quay trở lại trường và đã hoàn thành được bản luận án tiến sĩ thiên văn học: Vận tốc đẳng phương trong đám mây bụi hoàng đới. Brian May là tác giả của các ca khúc: Flash, The show must go on, We will rock you…
 


Nhà văn tiểu thuyết trinh thám Pháp: Francis Ryck
 


Nhà văn Francis Ryck đã qua đời ở tuổi 87, tại Pari, hôm 19 tháng trước. Ông là tác giả của gần 60 tác phẩm, và được nhìn nhận là một trong những người đi đầu của tiểu thuyết trinh thám mới của Pháp, cùng với Jean Amila, Jean-Patrick Manchette, Frederic Fajardie. Một số tác phẩm nổi tiếng của Francis Ryck: Priere de se pencher au dehors (1978); Lenuage et la foudre (1982)…
 


Cuộc thi ảnh quốc tế Franceco Forno
 


Cuộc thi ảnh quốc tế Franceco Forno lần thứ 11 dành cho ảnh màu được tổ chức tại Italia, có hai chủ đề là tự do; con người và biển ca . Chiều dài ảnh tham dự giới hạn từ 24 đến 40cm. Ngoài 3 cúp pha lê của FIAP, 1 huy chương và 2 cúp pha lê của FIAF, cuộc thi sẽ còn môt số giai đặc     biệt như huy chương tổng thống, huy tượng thành phố Civivecchia, huy tượng Regione…. dành cho lứa tuổi tác giả 16, 21 và 29. 


Thể loại truyện tranh Manga 
 


Manga là thể loại truyện tranh độc đáo của Nhật Bản, có cốt chuyện phức tạp kết hợp với những nét vẽ minh họa thanh thoát và lãng mạn. Hiện nay, Manga đang được lan truyền từ Nhật Bản đến khá nhiều nước trên thế giới. Để khai thác tối đa giá trị của Manga, góp phần quảng bá văn hóa Nhật Bản, nươc này đã quyết định thành lập giải thưởng Manga quốc te, dành cho các tác giả nước ngoài, kể từ năm nay.
 


Hình tượng Tôn Ngộ Không
 


Hình tượng Tôn Ngộ Không, do Lục Tiểu Linh Đồng đóng, sẽ lại xuất hiện trong phim Đại đường du hiệp của nhà sản xuất Trương Kỷ Trung (Trung Quốc). Đại đường du hiệp dự định gồm 50 tập với một số thay đổi  về hình tượng nhân vật. Trước đây, hình tượng Tôn Ngộ Không đã từng xuất hiện trong các phim: Tây Du ký, Đại thoại Tây Du, Tôn Ngộ Không đằng vân giá vũ, Tề Thiên Đại Thánh Tôn Ngộ Không, Cuộc chiến Kim Giác Ngân Giác, qua sự thể hiện của các diễn viên: Lục Tiểu Linh Đồng, Châu Tịnh Trì, Trần Hạo Dân, Trương Vệ Kiện,  và Shigo Katori.
 


Bình chọn chuyện tình trong tác phẩm văn học
 


Kênh UKTV Drama của Anh đã tổ chức một cuộc bình chọn những câu chuyện tình trong các tác phẩm văn học. Chuyện tình của Cathy Earnshaw và Heathcliff trong tiểu thuyết Đồi gió hú của Emily Bronte được bình chọn là câu chuyện tình đẹp nhất. Tiếp theo đó là các câu chuỵện tình: Romeo và Juliet trong tác phẩm cùng tên của Shakespeare;
Elizabeth và Fitzwilliam Darcy trong Kiêu hãnh và định kiến của Jane Austen…  


Liên hoan phim quốc tế
Locarno 


Liên hoan phim quốc tế Locarno đã kỷ niệm sinh nhật lần thứ 60 bằng kỳ liên hoan vừa được tổ chức ấn tượng, tại Thụy Sĩ. Một giải Báo vàng dành cho phim hay nhất đã được trao cho bộ phim Ai No Yokan của Nhật Bản. Hai giải báo vàng dành cho diễn viên xuất sắc nhất  thuộc về nữ nghệ sĩ Marian Alvares (Tây Ban Nha) và nam nghệ sĩ  Michele Venitucci  (Ý)
 


Giải thưởng âm nhạc MTV lần thứ 24
 


Giải thưởng âm nhạc MTV lần thứ 24 sẽ được trao tại
Las Vegas vào ngày 9/9 tới. Hai ca sĩ được chú ý nhất trong danh sách đề cử hiện nay là Justin Timberlake và Beyonce knowleslead. Tham gia biểu diễn trong buổi trao giải có: Kanye West, Amy Winehouse, Foo Fighters, Chris Brown, Fall out boy…  


Maya và con búp bê…
 


Maya và con búp bê, chân dung Jacqueline Roque, phác họa Marie Therese tuổi 21
là ba tác phẩm của danh họa nổi tiếng P. Picasso mới được cảnh sát tìm lại. Ba tác phẩm này đã bị đánh cắp từ nhà cô cháu gái của Picasso  ngày 26 tháng 2 năm 2007, có trị giá ước khoảng 50 triệu USD. 


Truyện tranh Tintin in the Congo 
 


Bộ truyện tranh Tintin in the Congo của nhà xuất bản Egmont đã bị đề nghị thu hồi một tập. Theo ủy ban bình đẳng chủng tộc Anh, CER,  tập sách có những từ ngữ mang định kiến phân biệt chủng tộc nặng nề. Tác giả của truyện tranh Tintin in the Congo là Herge, đã mất năm 1983.
 


Cuộc thi ảnh kỷ niệm ngày sinh của Hz. Mevlana
 


Dưới sự bảo trợ của FIAP, cuộc thi ảnh kỷ niệm 800 năm ngày sinh của nhà hiền triết Hz. Mevlana (Thổ Nhĩ Kỳ) đang được tổ chức. Chủ đề của cuộc thi là : Tôn giáo trên thế giới; chủ nghĩa Mevlana và đời sống tư tưởng Mevlana trên thế giới. Tác giả  tham dự được gửi 4 ảnh cho mỗi chủ đề. Giải thưởng của cuộc thi sẽ được công bố vào ngày 10/10 2007. 
 


Tiểu thuyết Out stealing horses 
 


Tiểu thuyết Out stealing horses của nhà văn Per Petterson  người  Nauy là một trong những tác phẩm đang  gây được sự chý  ý trên thế giới. Tác phẩm này  đề cập đến mối quan hệ cha - con trong chiến tranh thế giới lần II. Sau khi đạt giải thưởng lớn của Na Uy năm 2006,  Out stealing horses đã được trao giải Impac Dublin.

 

P.V
 
Design by JuliettaRose Studio.
Powered by Vnweblogs.